Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

sếp hiến.

        Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157), đánh dấu thành công của Hội nghị LHQ về Luật biển lần thứ 3, với sự tham gia của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ, cùng xây dựng nên một Công ước mới về Luật biển, được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận.


        Một số nội dung quan trọng đã được quy định trong Công ước Luật biển 1982 như sau:


        1. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền đầy đủ đối với vùng lãnh hải mà họ có quyền thiết lập với chiều rộng không quá 12 hải lý. Tuy vậy, chủ quyền  này không phải là tuyệt đối vì tầu thuyền nước ngoài được phép “đi qua vô hại” trong vùng lãnh hải. Tầu thuyền và máy bay được phép “đi quá cảnh” qua các dải hẹp, eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế.


        2. Ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) và thềm lục địa được xác định dựa trên các quy tắc áp dụng cho lãnh thổ đất liền, nhưng đối với đá không thể có con người sinh sống hoặc không có đời sống kinh tế sẽ không có vùng ĐQKT hoặc thềm lục địa. Quốc gia có biên giới với eo biển có thể điều tiết lưu thông hàng hải và các khía cạnh khác liên quan đến đi lại, lưu thông..


        3. Quốc gia quần đảo, được tạo thành bởi nhóm hoặc các nhóm đảo liên quan gần gũi và những vùng nước tiếp liền, sẽ có chủ quyền đối với vùng biển nằm trong các đường thẳng được vẽ bởi các điểm xa nhất của các đảo, vùng nước bên trong các đảo được gọi là vùng nước quần đảo, và các quốc gia này có thể thiết lập các đường đi lại cho tầu thuyền và hàng không, trong đó các quốc gia khác có thể được hưởng quyền qua lại các quần đảo bằng các tuyến đường biển đã định.


        4. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng ĐQKT rộng tối đa 200 hải lý, đối với tài nguyên thiên nhiên và một số hoạt động kinh tế, và thực hiện quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và tự do hàng không và tự do đặt dây cáp ngầm và đường ống.


         5. Quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý có quyền tham gia trên cơ sở công bằng trong việc khai thác một phần thích hợp trong số phần dư dôi của các tài nguyên sống trong vùng ĐQKT của quốc gia ven biển trong cùng khu vực hoặc tiểu khu vực; các loài di cư như cá hoặc sinh vật biển được bảo vệ đặc biệt.


         6. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa (khu vực đáy biển của quốc gia) trong việc việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa. Thềm lục địa có thể kéo dài ít nhất là 200 hải lý từ bờ biển, và có thể  kéo dài không quá 350 hải lý trong những điều kiện cụ thể. Quốc gia ven biển chia sẻ với cộng đồng quốc tế phần lợi tức thu được do khai thác tài nguyên từ bất cứ khu vực nào trong thềm lục địa của quốc gia đó khi nó kéo dài quá 200 hải lý. Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa (được thành lập theo Phụ lục II trong Công ước Luật biển 1982) sẽ có ý kiến đối với quốc gia liên quan về ranh giới ngoài của thềm lục địa khi nó kéo dài quá 200 hải lý.


        Như vậy, theo Công ước Luật biển 1982, vị trí Trung Quốc đang đặt giàn khoa DH-981 cách đường cơ sở theo Công ước (thuộc đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi) 118 hải lý (khoảng 221km), cách đường giới hạn vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam 80 hải lý (148km). Như vậy, vị trí giàn khoa của Trung Quốc hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam theo Công ước Luật biển 1982.


        Tuy nhiên, giọng điệu của nhà cầm quyền Trung Quốc luôn ra rả nói rằng, vị trí đó thuộc chủ quyền của Trung Quốc vì quần đảo Hoàng sa thuộc Trung Quốc và là nơi không có tranh chấp. Thực tế, dư luận quốc tế đều thừa nhận cái gọi là "đường lưỡi bò 9 đoạn" do Trung Quốc vin vào đó làm cơ sở để xác định lãnh thổ của Trung quốc trên biển Đông không có cơ sở pháp lý. Và toàn bộ bản đồ của Trung Quốc và của Việt Nam trước thời điểm Trung Quốc vẽ đường lưỡi bò (khoảng năm 40 của Thế kỷ 20), địa giới Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam. Quần đảo Hoàng Sa hòan toàn thuộc chủ quyền lịch sử của Việt Nam. Chính vì thế, lý do Trung Quốc đưa ra cho rằng vị trí giàn khoan thuộc vùng biển của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở và trái Công ước Luật biển 1982.


        Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý để yêu cầu Trung quốc mau chóng rút ngay giàn khoan nói trên khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trong trường hợp Trung Quốc không thực hiện, Việt Nam cần củng cố hồ sơ và khởi kiện Trung Quốc trước Tòa án quốc tế. Chúng ta không thể để Trung Quốc lấn lướt, cậy sức mạnh quân sự để chèn ép, độc chiếm Biển Đông và vùng lãnh hải của Tổ quốc.


        Hiện tại, dư luận nhân dân Trung Quốc không nắm biết rõ việc này, vì chính sách "ngu dân" của nhà cầm quyền Trung quốc không muốn cho những người dân chân chính biết sự thật tham vọng của họ. Do đó, chúng ta cần phải làm cho nhân dân Trung Quốc, nhất là những học giả chân chính của Trung quốc hiểu thực chất vấn đề và đồng tình với nguyện vọng chính đáng của Việt Nam trong bảo vệ chủ quyền biển đảo./.


        Hải Linh


5 nhận xét:

  1. Chính nghĩa và pháp lý luôn luôn thuộc về Việt Nam chúng ta. Trung Quốc đã có những hành động sai trái, những hành động vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam chúng ta, Trung Quốc đã vi phạm luật pháp quốc tế. Vì thế chính nghĩa và pháp lý luôn đứng về phía Việt Nam chúng ta

    Trả lờiXóa
  2. Đúng như vậy trong tình trạng căng thẳng từ phái ngoại giao chúng ta phải gia tăng sử dụng những biện pháp tuyên truyền đấu tranh bằng hình ảnh, bằng báo chí trong đó sử dụng luật pháp công ước biển đó là bước tiến quan trọng để chúng ta đánh gục được địch. đánh bại được âm mưu lấn chiếm của TQ. và thực tế Nhà nước đã chứng thực điều đó sử dụng những biện pháp tuyên truyền đến mọi người dân để qua đây chứng kiến sự trỗi dậy tinh thần mạnh mẽ của người dân làm đòn bẩy cho các cuộc thương lượng giải quyết ôn hòa

    Trả lờiXóa
  3. đứng trên cái nhìn khách quan chúng ta không thể bỏ qua được đó là luật pháp quốc tế! đây là văn bản quan trọng và là căn cứ để xác định những vấn đề tranh chấp để tìm hướng giải quyết. về Việt Nam đất nước chúng ta có những căn cứ khẳng định chủ quyền và bằng chứng chứng minh hành vi xâm phạm chủ quyền của TQ chính vì vậy chúng ta hoàn thiện hồ sơ căn cứ để chuẩn bị cho trường hợp khi TQ không thực hiện việc rút cái giàn khoan kia về nước ra tòa án quốc tế.

    Trả lờiXóa
  4. Với những quy định trong Công ước Luật biển 1982 thì có thể khẳng định rằng vùng biển mà Trung Quốc đã đặt giàn khoan là hoàn toàn thuộc về Việt Nam chứ không có gì mà phải tranh chấp cả. Ấy thế mà Trung Quốc lại phá vỡ những gì mà luật biển quốc tế đã ban hành như vậy có khác gì là Trung Quốc muốn chống lại các tổ chức trên thế giới như vậy Trung Quốc chắc chắn sẽ thất bại và chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ phải suy nghĩ lại và rút giàn khoan về thôi

    Trả lờiXóa
  5. Cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông từ trước đến nay không khác gì bọn hải tặc.

    Trả lờiXóa

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Nổi bật trong tuần

Bài đăng nổi bật

Đọc thêm