Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

Capture

     Trong thời gian gần đây,khi Chính phủ ban hành nghị định 72 cũng như chúng ta xét xử các đối tượng vi phạm pháp luật, ở một số bài viết của một số đối tượng chống Việt Nam đều cho rằng ở nước ta không có tự do ngôn luận. Bên cạnh đó, một số tổ chức nước ngoài có những cáo buộc hay những lời lẽ cũ rích kiểu như “tỏ ra quan ngại”, “rất lấy làm tiếc” khi ở Việt Nam không có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, “kiểm soát gắt gao internet”, "bắt bớ nhiều blogger"... Điều này là hoàn toàn không có căn cứ và hết sức phi lý khi quyền tự do ngôn luận của công dân được pháp luật Việt Nam công nhận, được Nhà nước coi trọng và được quy định rõ ràng trong Điều 69 của Hiến pháp.


     Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải hiểu rằng: tự do không phải muốn làm gì thì làm, mà phải đặt trong khuôn khổ pháp luật. Không một nước nào trên thế giới coi quyền tự do ngôn luận là vô hạn, mà luôn đặt trong khuôn khổ luật pháp. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể chấp nhận.Tự do ngôn luận chỉ được bảo vệ khi nó không xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia và cộng đồng; khi nó không xâm phạm những quyền tự do cơ bản khác. Tôi xin trích dẫn số số điều trong một số văn bản của các quốc gia trên thế giới để minh họa cho vấn đề này:


     - Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyềncũng khẳng định rõ rằng “Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung....”.Như vậy rõ ràng, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là bị giới hạn bởi các quy định của luật pháp.


     - Điều 2385 Chương 115 của Bộ luật Hình sự Mỹ nghiêm cấm mọi hành vi “in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ…”. Hiến pháp Mỹ cũng cho phép Tòa án Tối cao đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện báo chí có hành vi phá hoại, lăng nhục, vu khống đối với nhà nước, xã hội và cá nhân.


     - Ở Singapore, Cơ quan Phát triển Truyền thông (MDA) thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành quy định các trang tin điện tử được cấp phép có nghĩa vụ phải rút những nội dung “hủy hoại sự hài hòa về chủng tộc và tôn giáo trong vòng 24 giờ” sau khi cơ quan quản lý truyền thông quốc gia yêu cầu.


     - Điều 17 Hiến pháp nước Cộng hòa Kyrgyzstan cũng ghi rõ: “Hiến pháp và Luật pháp nước Cộng hòa Kyrgyzstan hạn chế việc thực hiện các quyền và quyền tự do được phép trong trường hợp nhằm bảo đảm quyền và tự do của người khác, đảm bảo an toàn và trật tự xã hội, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ trật tự hiến pháp.


     - Điều 8 Hiến pháp Senegal và một số quốc gia Châu Phi khác thừa nhận việc đảm bảo quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, song cũng coi các quyền này là đối tượng bị điều chỉnh bởi các quy định pháp luật.


     - Điều 18 Hiến pháp CHLB Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”...


     Như vậy, có thể khẳng định rằng, quyền tự do ngôn luận của công dân được Nhà nước Việt Nam công nhận nhưng phải đặt trong khuôn khổ pháp luật, nó chỉ được bảo vệ khi không xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia và cộng đồng; không xâm phạm những quyền tự do cơ bản khác. Điều này là phù hợp với các quy định trong Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.


Qua Min


 

65 nhận xét:

  1. Đúng vậy. Xã hội hiện đại là phải sống và làm việc theo pháp luật. Tự do ngôn luận cũng phải theo pháp luật chứ ko thể đứng trên pháp luật. Những kẻ lợi dụng tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm.

    Trả lờiXóa
  2. Cái gì cũng thế , tự do ngôn luận cúng thế , bất cứ thứ gì thì cũng phải đặt dưới luật pháp , thế cứ nói gì cũng được à , ở nhà bố mẹ ai có cho chửi bậy , ăn nói hỗn láo , bầy bạ không?? Đất nươc lại còn phải có pháp luật không thì loạn hết cả lên à? ai chấp nhận được chứ

    Trả lờiXóa
  3. Tự do ngôn luận không có nghĩa là cứ muốn nói gì thì nói. Mọi người đều phải chịu sự ràng buộc của pháp luật, phải chịu trách nhiệm trước mọi hành động phát ngôn của mình. Những câu nói có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả một chế độ, cả một nền kinh tế.

    Trả lờiXóa
  4. Những đối tượng phản động đã lợi dụng tình trạng nhiều Việt kiều đã ở lâu ở nước ngoài mà không nắm được tình hình trong nước để tuyên truyền, xúi giục người dân làm ảnh hưởng đến uy tín cũng như làm ảnh hưởng đến hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Cần phải có sự tuyên truyền rộng rãi hơn về tình hình đất nước đối với những người lâu năm không về nước để tránh gây hiểu nhầm trong cộng đồng Việt kiều.

    Trả lờiXóa
  5. Trong một quốc gia,một dân tộc nào thì cũng phải có luật pháp cũng như những quy định chung.Làm gì thì cũng phải tuân thủ theo.Có như vậy thì xã hội mới không bị mất ổn định,đời sống của nhân dân mới được ấm no,hạnh phúc.Việt nam cũng vậy,chúng ta luôn có những chính sách hợp lí trong việc tự do ngôn luận.Tuy nhiên nó cũng luôn được đặt trong khuôn khổ của pháp luật.Vậy nên mỗi công dân việt nam cần tuân thủ việc tự do ngôn luận,cũng chính là tuân thủ pháp luật.

    Trả lờiXóa
  6. Những hành động cáo buộc về tự do ngôn luận ở Việt Nam là hoàn toàn không có căn cứ và hết sức phi lý. Đó là những lời lẽ của những tên phản động trong và ngoài nước bịa đặt để nói xấu Đảng và Nhà nước Việt Nam, những kẻ đó đã bị mua chuộc bởi các tổ chức nước ngoài nhằm chia rẽ nội bộ dân tộc, làm yếu đi sự lãnh đạo của Đảng. Chúng ta cần phải lên tiếng kiên quyết phản đối những lời lẽ bịa đặt này.

    Trả lờiXóa
  7. Cái gì cũng phải có khuôn khổ của nó, nếu không thì sẽ loạn hết. Con người cũng vậy, nếu sống không có khuôn khổ, không tuân thủ những nguyên tắc nhất định thì sẽ trở nên không khác gì súc vật, muốn làm gì thì làm, thậm chí dẫm đạp lên những giá trị đạo đức, dẫm đạp lên những người thân yêu. Và lúc đó con người chỉ có phần “con” mà không có phần “người nữa”. Và tự do ngôn luận cũng vậy.

    Trả lờiXóa
  8. Tôi đồng ý với bài viết này. Và tôi rất khoái khi anh đưa ra những căn cứ không thể chối cãi được. Hiện nay, bọn phản động thường vu cáo Việt Nam không cho người dân có quyền tự do ngôn luận để tấn công nước ta và kích động người dân. Nhưng xin thưa rằng, điều đó là không có căn cứ, không có cơ sở. Thậm chí so với các nước, ở Việt Nam quyền tự do ngôn luận được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

    Trả lờiXóa
  9. Không chỉ có quyền tự do ngôn luận mà tôi cho rằng tất cả những quyền khác của con người phải đặt trong một hệ thống, nó phải phù hợp và đáp ứng, không đi ngược lại lợi ích của một quốc gia, dân tộc. Quyền tụ do ngôn luận chỉ được pháp luật bảo vệ khi đáp ứng được yêu cầu đó.

    Trả lờiXóa
  10. Nhà nước ta luôn tạo mọi điều kiện cho người dân có thể phát huy hết khả năng, vai trò của mình, cho người dân thể hiện quyền làm chủ của mình đối với sự phát triển của đất nước. Tự do ngôn luận luôn được Nhà nước đảm bảo cho mỗi chúng ta. Nhưng tất cả phải trong khuôn khổ của pháp luật, tất cả phải nằm trong sự quản lý của Nhà nước để đảm bảo đất nước được phát triển bền vững.

    Trả lờiXóa
  11. Các thế lực thù địch luôn đưa vấn đề nhân quyền, dân chủ để gây sức ép với nước ta, vì đây là những vấn đề nhạy cảm. Nhưng thật nực cười. Nhân quyền không thể cao hơn chủ quyền của một quốc gia, của một dân tộc. Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, là một phần tử rất nhỏ trong một cộng đồng người. Do vậy, mọi hành động và lời nói của con người phải phù hợp và tuân thủ theo những nguyên tắc của cộng đồng đó.

    Trả lờiXóa
  12. Điều này thì rõ rành rành không thể chối cãi được rồi. Ngay cả ở Mỹ cũng quy định nghiêm cấm mọi hành vi “in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ…”. Thế mà chúng nó lại đi rêu rao về tình hình tự do ngôn luận ở nước ta, lại còn cổ xúy cho những đối tượng phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Trả lờiXóa
  13. Mấy cái thằng tự nhận mình là nhà dân chủ chỉ là những đối tượng ô hợp, không có nhận thức, những luận điệu chúng đưa ra hoàn toàn vô căn cứ. Chúng có quyền gì mà bàn về tự do ngôn luận cơ chứ. Chúng nó cho rằng tự do ngôn luận là có thể chửi vào mặt bố mẹ chúng nó à? Thật là vô đạo đức, vô văn hóa, không ra thể thống gì nữa.

    Trả lờiXóa
  14. Ngay cả Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền cũng khẳng định quyền tự do ngôn luận phải đặt trong khuôn khổ pháp luật rồi còn gì nữa. Thế mà mấy thằng điên ở nước ngoài còn kêu la nữa mới buồn cười chứ. Không biết đọc thì phải ngửi chứ.

    Trả lờiXóa
  15. Không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả các nước khác cũng quy định rất rõ ràng về quyền tự do ngôn luận. Chẳng hạn như ở Mỹ, Sing, các nước châu Phi... Nó phải phù hợp và không được đi ngược lại với lợi ích của dân tộc. Bọn phản động hết cái để dựa dẫm nên cắn càn ấy mà, định lôi cái quyền tụ do ngôn luận ra để bịp bợm đây mà. Vẫn là những chiêu trò cũ thôi.

    Trả lờiXóa
  16. Tôi thấy bọn chúng biết hết nhưng giả vờ ngây ngô, giả vờ ngây thơ không biết. Chẳng có gì là vượt khỏi khuôn khổ pháp luật cả. Không tuân thủ pháp luật thì chắc xã hội nào cũng không tồn tại được. Muốn giết người thì giết, muốn hiếp dâm thì hiếp dâm à. Như thế thì thế giới còn tồn tại đến bây giờ nữa không? Bọn nó điên hết rồi.

    Trả lờiXóa
  17. Tự do ngôn luận phải đặt trong khuôn khổ pháp luật là chính xác rồi. Người Việt có câu “uốn lưỡi 7 lần trước khi nói”, có nghĩa là trước khi nói cái gì phải suy nghĩ thật kỹ càng. Nhất là lời nói đó không làm ảnh hưởng đến người khác chứ đừng nói gì đến việc dùng lời nói để chống lại một quốc gia, một dân tộc, đi ngược lại lợi ích của nhân dân.

    Trả lờiXóa
  18. Thực ra đây chỉ là trò hề của các thế lực thù địch. Chúng định dùng quyền của nhân dân để lừa bịp chính người dân dưới dạng bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân mà thôi. Cái gì chẳng có khuôn khổ của nó đúng không các bác? Nếu không thì em cũng tranh cử làm Tổng thống Mỹ từ lâu rồi ấy chứ.

    Trả lờiXóa
  19. Khuôn khổ là một khái niệm rõ ràng và trong cuộc sống, dù là ai con người ta cũng phải sống trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đây là nền tảng để giữ vững trật tự an toàn xã hội, đảm bảo an ninh quốc gia của đất nước. Và quyền tụ do ngôn luận cũng là một quyền rất nhỏ phải nằm trong khuôn khổ pháp luật.

    Trả lờiXóa
  20. Tôi thích nhất ở bài viết này ở đoạn cuối: “quyền tự do ngôn luận của công dân được Nhà nước Việt Nam công nhận nhưng phải đặt trong khuôn khổ pháp luật, nó chỉ được bảo vệ khi không xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia và cộng đồng; không xâm phạm những quyền tự do cơ bản khác. Điều này là phù hợp với các quy định trong Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân”. Chính xác quá còn gì.

    Trả lờiXóa
  21. Bọn dân chủ dởm luôn rêu rao về quyền tự do ngôn luận vì chúng luôn dùng những cái mồm thối tha của mình để nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc tình hình ở Việt Nam, viết bài sai sự thật ấy mà. Nếu không được nói thì chúng không biết làm gì nữa. Rêu rao cho có tí gọi là... nhằm kiếm ăn từ những tổ chức phản động bên ngoài thôi.

    Trả lờiXóa
  22. Hiện nay, một trong những thủ đoạn của các tổ chức phản động, cá nhân chống đối ở trong và ngoài nước là tuyên truyền phá hoại tư tưởng. Mục đích của chúng là chia rẻ khối đại đoàn kết toàn dân, làm cho nhân dân nghi ngờ về sự lãnh đạo của Đảng, từ đó hoang mang, dao động về tư tưởng. Do vậy, chúng luôn rêu rao về quyền tự do ngôn luận. Nhưng chúng không hề biết rằng, không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết ở tất cả các nước trên thế giới đều có những quy định rõ ràng về vấn đề này. Nhà nước Việt Nam tôn trọng, đảm bảo và bảo vệ quyền tự do ngôn luận khi nó không xâm phạm lợi ích chung của đại đa số nhân dân.

    Trả lờiXóa
  23. Xã hội hiện đại là phải sống và làm việc theo pháp luật. Tự do ngôn luận cũng phải theo pháp luật chứ ko thể đứng trên pháp luật.Mục đích của chúng là chia rẻ khối đại đoàn kết toàn dân, làm cho nhân dân nghi ngờ về sự lãnh đạo của Đảng, từ đó hoang mang, dao động về tư tưởng. Do vậy, chúng luôn rêu rao về quyền tự do ngôn luận. Nhưng chúng không hề biết rằng, không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết ở tất cả các nước trên thế giới đều có những quy định rõ ràng về vấn đề này

    Trả lờiXóa
  24. Tự do ngôn luận không phải là muốn nói gì thì nói mà không cần để ý đến bất cứ việc gì. Luật pháp nước ta đã quy định rõ ràng rằng công dân có quyền tự do ngôn luận nếu những gì nói hay đưa ra không xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia và cộng đồng; khi nó không xâm phạm những quyền tự do cơ bản khác. Như vậy mới hợp pháp và được cho phép. Không chỉ ở nước ta mà ở rất nhiều nước khác trên Thế giới cũng vậy.

    Trả lờiXóa
  25. Quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam là hoàn toàn đúng và cũng giống như quyền tự do ngôn luận trên nhiều nước khác. Vì vậy việc có những người nói ở Việt Nam không có tự do ngôn luận là nói nhảm, chưa tìm hiểu rõ ràng, không có căn cứ. Tự do ngôn luận chỉ được luật pháp bảo vệ khi nó không xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia và cộng đồng; khi nó không xâm phạm những quyền tự do cơ bản khác. Điều này hoàn toàn hợp lý. Nếu tự do ngôn luận nào cũng đúng thì chả khác gì tạo điều kiện cho những kẻ phản động có cơ hội lên tiếng tha hồ bịa chuyện nói xấu chính quyền.

    Trả lờiXóa
  26. Quyền tự do ngôn luận đâu phải là cứ muốn nói gì thì nói, kể cả những lời lẽ phản động, đả kích, xâm phạm đến nhân quyền mà vẫn hợp pháp. Không phải như vậy. Tự do ngôn luật chỉ được bảo vệ khi nó không xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia và cộng đồng; khi nó không xâm phạm những quyền tự do cơ bản khác. Không những ở Việt Nam mà các nước trên Thế giới cũng quy định như vậy. Nên quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với xu thế của toàn cầu.

    Trả lờiXóa
  27. Việt Nam ta cũng như bất kí quốc gia nào trên thế giới cũng đều thế cả thôi, cũng đều rất tôn trọng quyền tự do ngôn luân, tự do báo chí của mọi người. Không có bất cứ hành vi cấm đoán hay ngăn cản nào. Tuy nhiên, cũng như các quốc gia khác, đều ra những luật về tự do ngôn luật, đây là xu thế chung của mọi quốc gia trên thế giới, chứ không chỉ riêng gì Việt Nam, và nó cũng phù hợp với tình hình hiện nay, bởi lắm kẻ lợi dụng sự tự do này một cách quá mức, gây ảnh hưởng tới nhiều quốc gia

    Trả lờiXóa
  28. Mấy anh rận chủ lúc nào cũng luôn mồm nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền, quyền tự do ngôn luận. Nhưng đâu phải tự do là có thể làm mọi thứ, nước nào cũng có luật pháp riêng, Việt Nam cũng vậy và việc quy định tự do ngôn luận phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật cũng là quy định đã được lập ra và cần thiết đối với Việt Nam. Vì vậy, ai vi phạm, ai lợi dụng tự do ngôn luận, báo chí để tuyên truyền phá hoại thì bị trừng phạt là đúng rồi.

    Trả lờiXóa
  29. Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son đã nói: "Chúng ta đều biết, mọi quốc gia trên thế giới đều rất quan tâm, tôn trọng tự do ngôn luận và đã đưa ra những quy định để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của con người. Song các quốc gia đều thấy tự do ngôn luận không phải là vô hạn mà đều coi tự do ngôn luận phải được tôn trọng trong khuôn khổ của pháp luật." Như vậy là không chỉ Việt Nam ta mà tất cả các quốc gia trên thế giới đều có chung một quan điểm về tự do ngôn luận

    Trả lờiXóa
  30. Cái gì cũng phải nằm trong khuôn khổ của nó. Chỉ vậy thôi. Chấm hết.

    Trả lờiXóa
  31. Đảng và nhà nước ta luôn đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí cho mỗi một công dân! tuy nhiên, rất nhiều người, đặc biệt là thế lực thù địch, những phần tử phản động đang lợi dụng những quyền như thế này để có những lời lẽ sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng và nhà nước ta! chúng ta có quyền tự do ngôn luận nhưng chúng ta phải tuân thủ theo luật pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam!

    Trả lờiXóa
  32. tự do ngôn luận là quyền thiết yếu của mỗi một công dân Việt Nam! tuy nhiên đây cũng là mảnh đất màu mỡ đối với những kẻ phản động, đối với những kẻ xấu đang có những âm mưu đen tối đối với đất nước chúng ta!Đảng và nhà nước ta vẫn để cho mỗi người dân có quyền tự do ngôn luận nhưng mỗi người cần ý thức về quyền tự do ngôn luận nhưng trong giới hạn mà pháp luật Việt Nam cho phép!

    Trả lờiXóa
  33. NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT - (Phần 25) - LÊ ĐỨC ANH - KẺ BÁN NƯỚC

    Lê Đức Anh là một tên cai phu cao su có nhiều tội ác với những người dân lành. Đây là kẻ đã từng tiếp tay cho thực dân Pháp đánh đập nhân dân ta. Đó là tội ác không thể dung tha. Đặc biệt, Lê Đức Anh có vai trò rất quan trọng trong việc bán nước của đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó chúng ta cần phải thấy rõ được bộ mặt thật của Lê Đức Anh để nhân dân một ngày gần đây xét xử trước công luận về tội ác này. Đó chính là lẽ phải và chính nghĩa mà chúng ta phải đấu tranh vì một dân tộc Việt Nam trường tồn mãi mãi...

    I. Ác ôn giả danh dân lành:

    1. Lý lịch hiện nay:

    Theo tài liệu được cung cấp trên trang chính của báo điện tử cộng sản thì Lý lịch của Lê Đức Anh như sau:

    “Họ và tên: Lê Đức Anh
    Bí danh: Sáu Nam
    Ngày sinh: 1920
    Quê quán: xã Bàn Môn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế
    Ngày tham gia cách mạng: 1937
    Ngày vào Đảng: 30-5-1938
    Trình độ học vấn: Văn hóa lớp 7/10, Lý luận chính trị: Trường Đảng Việt Bắc, Học viện Quân sự cao cấp Liên Xô.

    TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

    Từ 1937 đến 1945: Tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5/1938, Chỉ huy quân đội vũ trang ở Thủ Dầu Một; Trung đội trưởng, Chính trị viên đại đội, Chính trị viên tiểu đoàn, Trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một, Ủy viên Ban Chấp hành cao su Nam Bộ.

    Từ 10/1948 đến 1950: Được cử giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8; Khu Sài Gòn-Chợ Lớn, Quân khu ủy viên.

    Từ 1/1951 đến 1975: Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Cục phó Cục Tác chiến, Cục phó thứ nhất Cục Quân lực, Cục trưởng Cục Quân lực, Phó Tổng tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền, Tư lệnh Quân khu 9, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền, Trung tướng (1974).

    Từ 1975 đến 1976: Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh cánh quân Tây Nam, Tư lệnh Quân khu 9, Bí thư Quân khu ủy, Đại biểu Quốc hội khóa VI.

    Từ 12/1976: Tại Đại hội IV được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 7 (1978), Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng (1980).

    Từ 6/1981: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Tại Đại hội V (3/1982) của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, Đại tướng (1984). Từ tháng 2/1987 tháng 9/1992: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tại Đại hội VI (12/1986) và Đại hội VII (6/1991) được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị. Đại biểu Quốc hội khóa VIII.

    Từ 1992: Được Quốc hội khóa IX bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại Đại hội VIII (6/1996), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, giữ chức Chủ tịch nước.

    Từ 12/1997: Được Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.”.

    Theo tài liệu dạy lịch sử tóm tắt của cộng sản Việt Nam thì tiểu sử tóm tắt của Lê Đức Anh như sau: “Lê Đức Anh (sinh 1920), nhà hoạt động quân sự, chính trị Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam; đại tướng. Quê làng Bàn Môn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tham gia cách mạng từ 1937. Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch (1944).

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 2)

    Trả lờiXóa
  34. (Lê Đức Anh-phần 3)

    Rõ ràng 2 bản lý lịch khai ngày vào đảng khác nhau và từ đó có 1 số vấn đề xảy ra khiến các quan chức cộng sản kỳ cựu đặt vấn đề. Phải nói rằng, trong công tác Đảng viên của cộng sản thì vấn đề Đảng tịch bất cứ thời kỳ nào cũng là vấn đề quan trọng hàng đầu. Điều lệ Đảng quy định: “Đảng viên chỉ được tính tuổi Đảng từ khi được kết nạp Đảng chính thức. Có nghĩa rằng chỉ có thể chính thức được công nhận là Đảng viên từ ngày được chi bộ chính thức kết nạp”.

    Trong bản tóm tắt lý lịch lần thứ nhất (tháng 11 - 1976) của Lê Đức Anh có ghi rõ: chưa sinh hoạt chi bộ. năm 1939 thì mất liên lạc. Cho dù được kết nạp dự bị năm 1938 thì cũng không thể kết nạp chính thức, vì chưa sinh hoạt chi bộ. Bản tóm tắt lý lịch này còn ghi là: “Tháng 11 - 1944 tiếp mối liên lạc hoạt động trong công nhân cao su”. Vậy, tiếp nối liên lạc hoạt động gì? Hoạt động Đảng là hoạt động với tư cách đảng viên chính thức hay đảng viên dự bị? Giả định đã tiếp mối liên lạc về Đảng thì sau đó hoặc là được kết nạp dự bị lại, hoặc là sau một thời gian thử thách được chính thức kết nạp vào Đảng. Trong tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 không nói điều này. Xin lưu ý là từ tháng 4 - 1944 đến tháng 7 - 1945 là 1 năm 3 tháng. Lúc đó đang là cao trào cách mạng tiền khởi nghĩa, có vùng Đảng đã hoạt động bán công khai. Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 còn ghi là: “Tháng 7-1945 được giao nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa. Lấy đó làm ngày kết nạp và lấy ngày 30-8-1945 là ngày làm Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một làm ngày chính thức”. Việc dùng từ “lấy đó” chính là việc mập mờ kết nạp và chưa kết nạp đảng của Lê Đức Anh.

    Bản tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 ghi: Thành phần là “viên chức”. Viên chức là thuộc thành phần tiểu tư sản. Được kết nạp năm 1938, nhưng không có ngày. Điều lệ Đảng cộng sản trước đây quy định: “Thời gian dự bị của những người được kết nạp Đảng thành phần tiểu tư sản là 6 tháng. Còn xuất thân thành phần công nhân thời gian dự bị là 3 tháng”. Cho nên khi khai ngày kết nạp (dự bị) là 30 - 5 - 1938 và ngày chính thức là 05-10-1938 (cách nhau 4 tháng 6 ngày thì tất nhiên kèm theo đó phải khai tụt xuống là xuất thân công nhân). Vì nếu xuất thân viên chức thì thời gian dự bị phải là 6 tháng. Rõ ràng là Lê Đức Anh khai man lý lịch. Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 ghi: “Tham gia Mặt trận Bình Dân, bị địch khủng bố mất liên lạc vào Nam Bộ làm ăn. Tháng 4-1944, tiếp tục hoạt động”. Như vậy là chỉ nói tham gia Mặt trận Bình Dân, không nói rõ tham gia Đảng. Chỉ nói “mất liên lạc vào Nam Bộ làm ăn. Tháng 4-1944 tiếp tục hoạt động”. Như vậy là từ năm 1939 đến tháng 4 năm 1944 làm ăn, không hoạt động gì, thời gian đó là hơn 5 năm. 5 năm không phải là thời gian ngắn.

    Bản tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 như vậy, thế thì làm sao lại có thể sinh ra trong bản tóm tắt lý lịch lần 2: “ngày vào Đảng là ngày 30-5-1938, ngày chính thức là ngày 05- 10 - 1938?” Vì sao đến năm 1986 lại nhớ cụ thể ngày tháng kết nạp chính thức đến như vậy? Nếu được kết nạp chính thức rồi mà trong suốt 5 năm ấy, sao không tìm cách bắt liên lạc với Đảng? Khi vào Hội An, phong trào cách mạng ở Hội An, Duy Xuyên, Quảng Nam rất mạnh. Tổ chức Đảng và các tổ chức công khai như các hội ái hữu, các nghiệp đoàn đều hoạt động mạnh, ngay trong Sở đạc điền mà Lê Đức Anh làm thư ký cũng có tổ chức quần chúng của Đảng. Rõ ràng có sự man trá trong lý lịch của Anh.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 4)

    Trả lờiXóa
  35. (Lê Đức Anh-phần 4)

    Xem nguyên văn bức thư tại: (3)

    Thứ hai, ông Năm Thi là một cộng sản kỳ cự trong bức thư gửi Lê Đức Thọ yêu cầu xác minh lý lịch và các vấn đề về Lê Đức Anh viết ngày 2 - 8 - 1986 có nói: “Đầu năm 1945, tôi (Năm Thi là Ủy viên Ban cán sự Thủ Dầu Một) được phân công đến Lộc Ninh để kiểm điểm khả năng tổ chức lực lượng Mặt trận Việt Minh... Tháng 2-1945 một tổ chức Mặt trận Việt Minh trong công nhân cao su... Ngày vào Đảng năm 1945 (của đồng chí Lê Đức Anh) do Đảng bộ Thủ Dầu Một có thể là đúng. Còn trước năm 1945, tôi (Năm Thi) chưa thấy rõ vì không có sự giới thiệu nào là một đồng chí đảng viên nằm vùng... Nhiều đồng chí chí cho rằng: đồng chí Lê Đức Anh chưa được kết nạp hoặc chưa được kết nạp chính thức. cho nên mới dùng cái từ “lấy đó làm ngày kết nạp, lấy đó làm ngày chính thức”. Vì vậy, yêu cầu thẩm tra đảng tịch đồng chí Lê Đức Anh của nhiều đồng chí lão thành cách mạng là có lý do xác đáng. Nhiều đồng chí cán bộ, đảng viên nghi vấn đồng chí Lê Đức Anh chưa được kết nạp vào Đảng là có lý do... cần phải Điều tra lý lịch ngày vào Đảng có phải là 44 hay 39?...”

    Như vậy rõ ràng Lê Đức Anh tự khai vào Đảng ngày 30 tháng 5 năm 1938 và chính thức ngày 05 tháng 10 năm 1938 là khai man.

    Thứ ba, một bức thư khác của 3 ông tướng cộng sản Phùng Thế Tài, Lê Tự Đồng và Hoàng Minh Thảo đề ngày 2/4/2001 cũng đã cho thấy Lê Đức Anh là một nhân vật bất minh ngay cả với cộng sản:“Ngoài những điểm trên, chúng tôi xin hỏi Ủy ban kiểm tra Trung ương có nghe đồn về việc Lê Đức Anh đã khai man lý lịch để nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và đã có thời kỳ làm cai phu Đồn điền. Nghe đâu đã có một đồng chí đã tố giác việc này. Thực hư ra sao chúng tôi không rõ, nhưng đây là vấn đề bảo vệ trong sạch của Đảng và cũng là sinh mệnh chính trị của đảng viên, rất mong Ủy ban kiểm tra Trung ương có xác minh, kết luận rõ ràng.”.

    3. Lê Đức Anh thực chất là ai?

    Lê Đức Anh học tiểu học ở Huế, năm 11 tuổi ra Vinh học tiếp nhưng chỉ được một vài năm. Huy Đức viết: “Học vấn của ông Lê Đức Anh ở mức đọc thông viết thạo” (QB, tr. 103). Và con ngươi thật của Lê Đức Anh ra sao? Hãy đọc những tài liệu sau đây:

    Thứ nhất, hãy đọc thêm một bức thư nữa của một số vị cộng sản kỳ cựu để thấy lý lịch của Lê Đức Anh thế nào và Lê Đức Anh là ai.

    “Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 02 năm 2005

    Kính gởi:
    - Bộ chính trị
    - Ủy ban kiểm tra trung ương đảng
    - Ban chấp hành trung ương đảng khóa 9

    Đồng kính gởi:
    - Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
    - Đại tướng Võ Nguyên Giáp
    - Đ/c Lê Khả Phiêu, nguyên tổng bí thơ
    - Đ/c Nguyễn Đức Tâm, nguyên ủy viên bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung ương

    Chúng tôi gồm:

    1. Phạm Văn Xô (Hai Xô) sinh năm 1910, vào đảng năm 1930, nguyên ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp; ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam - trưởng ban kiểm tra trung ương Cục thời chống Mỹ, nguyên ủy viên ban chấp hành trung ương đảng; ủy viên ban kiểm tra trung ương khóa 3, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Đồng Văn Cống (Bảy Cống), trung tướng, sinh năm 1918, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 99 Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp; tư lệnh quân khu 9, phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam, ủy viên quân ủy Miền thời kháng chiến chống Mỹ; tư lệnh quân khu 7, phó tổng thanh tra quân đội sau ngày đất nước thống nhất, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Nguyễn Văn Thi (Năm Thi) sinh năm 1920, nguyên ủy viên ban cán sự đảng, ủy viên tỉnh ủy, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương) từ năm 1942 đến năm 1946, chi đội trưởng chi đội I, liên trung đoàn trưởng 301-310, tư lệnh đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn (1950), bí thư đảng bộ nhà tù Côn Đảo (1953) thời kháng chiến chống Pháp; chủ nhiệm hậu cần bộ chỉ huy Miền thời chống Mỹ, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 5)

    Trả lờiXóa
  36. (Lê Đức Anh-phần 5)

    Có thư báo cáo và kiến nghị lên các cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng mấy điểm sau đây:

    Thời gian qua, nhiều cán bộ lão thành cách mạng và cựu chiến binh cao tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ đến gặp chúng tôi hỏi tình hình nội bộ đảng. Họ đưa chúng tôi xem nhiều tài liệu mà con cháu họ truy cập được từ Internet. Trong các tài liệu đó, có thư của nhiều tướng lĩnh và lão thành cách mạng gửi bộ chính trị và trung ương khóa 9, đặc biệt là thư ngày 3-1-2004 của đại tướng Võ Nguyên Giáp; các thư của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, nguyên ủy viên trung ương đảng các khóa 5, 6, 7; của đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh, 65 tuổi đảng, nguyên cục trưởng cục tổ chức Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, ủy viên trung ương đảng khóa 3; của đồng chí Nguyễn Tài, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên thứ trưởng bộ công an, phó chủ nhiệm ủy ban pháp luật của quốc hội khóa 8.

    Các bức thơ tâm huyết đó đều kiến nghị bộ chính trị phải sớm đưa ra hội nghị trung ương đảng xem xét và xử lý một loạt các vụ việc nghiêm trọng liên tiếp xảy ra trong đảng hàng chục năm qua, trong đó có vụ T4, từng được bộ chính trị khóa 8 bàn giao lại cho bộ chính trị khóa 9 và được coi là "một vụ án chính trị siêu nghiêm trọng" nhưng đến nay vẫn chưa vạch mặt những kẻ cầm đầu để xử lý một cách triệt để.

    Những vụ việc trên, chúng tôi ít nhiều đều có nghe, có biết. Qua các thư trên, chúng tôi càng hiểu rõ hơn. Nhưng do phải chờ kết luận của trung ương, chúng tôi không thể giải thích cho những người đến hỏi.
    Nay xin báo cáo và cung cấp một số tư liệu để trung ương có thêm căn cứ xem xét nguồn gốc các vụ việc nói trên.

    Theo chúng tôi thì những vụ việc nghiêm trọng xảy ra trong hơn hai chục năm qua, từ vụ Xiêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991), vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng Cục 2 với quyền hạn siêu đảng, siêu nhà nước, được hợp pháp hóa bằng pháp lệnh tình báo của quốc hội và nghị định 96/CP của chính phủ, vụ T4 (1997-1999), đến vụ nói xấu, vu khống nhằm lật đổ tổng bí thư Lê Khả Phiêu trước đại hội 9, v.v., đều có bàn tay của nhân vật từng hoạt động cách mạng và kháng chiến ở Nam Bộ mà chúng tôi đều biết rõ. Đó là nguyên cai đồn điền cao su, nguyên chủ tịch nước, nguyên cố vấn Lê Đức Anh.

    Vì sự trong sạch và vững mạnh của đảng, với ý thức trách nhiệm của những người cộng sản từng gắn bó với đảng và hoạt động ở Nam Bộ hơn sáu bảy chục năm qua, chúng tôi xin báo cáo với đảng một số hiểu biết về Lê Đức Anh như sau:

    1. Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người phụ trách việc chế biến thực phẩm cho chủ đồn điền và các quan chức Pháp ở Lộc Ninh (chef des cooperatives) từ đầu thập kỷ 40 của thế kỷ 20, được anh chị em công nhân cao su đặt cho biệt danh là "cai lé", do chột mắt vì bệnh đậu mùa. Lê Đức Anh là người giúp việc thân cận của chủ đồn điền De Lalant (Delalande?), một sĩ quan phòng nhì của Pháp. Lương của y cao như lương của chef de camp.

    Năm 1955, sau khi bộ đội Nam Bộ tập kết ra miền Bắc, đồng chí Trần Văn Trà là tư lệnh kiêm chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh là phó chính ủy, đồng chí Đồng Văn Cống làm tham mưu trưởng, Lê Đức Anh làm tham mưu phó. Thấy Lê Đức Anh không được vào đảng ủy, đ/c Đồng Văn Cống hỏi thì đ/c Vịnh trả lời: "Qua lớp chỉnh đảng ở Việt Bắc, lý lịch của Lê Đức Anh không rõ, nên không giới thiệu".

    Trong một lần tâm sự với Lê Đức Anh, đ/c Đồng Văn Cống hỏi: "Nghe người ta nói cậu là surveillant?". Lê Đức Anh không trả lời. Đ/c Đồng Văn Cống hỏi tiếp: "Hay cậu là 2è bureau (phòng nhì)?". Lúc ấy Lê Đức Anh mới trả lời: "Tôi làm công chức cho đồn điền".

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 6)

    Trả lờiXóa
  37. (Lê Đức Anh-phần 7)

    - Về chính trị: ngoài vụ Xiêm Riệp bắt nguồn từ chủ trương "đánh địch ngầm" do Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh đề ra, Lê Đức Anh đã có nhiều biểu hiện và hành vi coi thường bạn, cho kiểm tra nhà ở của một số ủy viên bộ chính trị đảng nhân dân cách mạng Campuchia, bao biện làm thay, can thiệp vào công việc nội bộ, bắt bớ đảng viên của bạn khiến bạn phản ứng và nghi ngờ tình cảm quốc tế trong sáng của đảng, nhà nước và quân đội ta.

    - Về quân sự: đã đánh giá quá thấp kẻ địch, chủ trương "trong năm 1980, quét sạch quân địch ngoài địa hình mà trọng điểm là vùng rừng Ô-Ran, đồng thời hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ phá tan âm mưu địch dùng phần tử hai mặt lũng đoạn đảng và chính quyền của bạn". Đã chỉ đạo chiến tranh theo kiểu ăn đong, năm này chưa xong thì năm sau, kéo dài đến mười năm vẫn chưa diệt được đối thủ mà Lê Đức Anh gọi là "tàn quân" Pôn Pốt!

    Từ cuối năm 1979, Lê Đức Anh đề ra chủ trương "khóa chặt biên giới", "xây dựng tuyến phòng thủ biên giới" với mật danh K5 bằng cách huy động đông đảo nhân dân các địa phương nước bạn, từ rừng núi đến đồng bằng lên biên giới cùng quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội bạn chặt cây, đào hào, rải chông và căng giây thép gai nhằm ngăn chặn quân Pôn Pốt từ Thái Lan vào đất Campuchia (!). Mặc dù ta và bạn đã bỏ ra nhiều công sức và tiền của trong nhiều năm, nhưng biên giới vẫn không "khóa chặt" được, địch vẫn mở được hành lang qua biên giới vào nội địa, xây dựng được nhiều căn cứ dọc biên giới, có nơi vào sâu đến 30, 40 kilômét.

    Do chủ trương sai lầm của Lê Đức Anh mà hàng chục vạn cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam cũng như bộ đội và nhân dân bạn đã bỏ xác trên tuyến biên giới dài 1.200 km cũng như trong nội địa do bị địch đánh úp, do mìn và sốt rét ác tính!

    Mặc dù vậy, đến năm 1983, Lê Đức Anh vẫn cho rằng ở Campuchia chưa có chiến tranh, chỉ mới là những "hoạt động du kích" của "tàn quân Pôn Pốt". Chúng sẽ bị tàn lụi vào năm 1985 như nghị quyết của ban cán sự và bộ tư lệnh 719! Khi bộ phận tiền phương của cục khoa học quân sự bộ tổng tham mưu tại Campuchia đề nghị nên có sự đánh giá khách quan hơn, có sự chỉ huy chiến tranh bài bản hơn trên cơ sở nghiên cứu tính chất và đặc điểm của cuộc chiến tranh ở Campuchia để tìm ra quy luật đặc thù của nó, thì Lê Đức Anh nổi giận, ra lệnh cho cơ quan tiền phương cục khoa học quân sự gồm 10 đại tá phải rút ngay về nước, trả lại cho bộ tổng tham mưu với lý do "tinh giản biên chế ở chiến trường!".

    Có những sai lầm khuyết điểm như trên, nhưng Lê Đức Anh vẫn thăng tiến rất nhanh, từ ủy viên trung ương khóa 4 lọt vào bộ chính trị khóa 5 rồi tiến lên nắm chức bộ trưởng bộ quốc phòng, chủ tịch nước!

    6. Trong quan hệ gia đình, Lê Đức Anh là người chồng phản bội: Ra Bắc được mấy năm, Lê Đức Anh nói với đ/c Đồng Văn Cống là sẽ xin lấy vợ khác, vì bà Bảy Anh trong Nam đã lấy chồng, lại thuộc thành phần gia đình phản động làm tay sai cho địch! Đ/c Đồng Văn Cống nói: "Hôm ở Cao Lãnh tôi thấy chị Bảy khóc rất dữ khi tiễn Anh đi tập kết; nghe nói sau đó chị về công tác ở miền Đông, căn cứ vào đâu mà anh nói Chị đi lấy chồng và theo địch? Tôi không tán thành".

    Nhưng rồi nhờ sự ủng hộ của Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh vẫn bỏ được vợ cũ, lấy được vợ mới. Trong lúc đó thì trong hoàn cảnh đấu tranh khốc liệt và gian khổ ở miền Nam, chị Bảy Anh vẫn một lòng kiên trung chờ đợi và tiếp tục hoạt động cách mạng, làm ủy viên tỉnh ủy Bình Dương cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng!
    Khi biết chuyện này, các đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Thị Định và đồng bào cán bộ miền Nam đều rất bất bình, cho Lê Đức Anh là một tên vô đạo đức!

    Thưa bộ chính trị và ban chấp hành trung ương đảng!

    Đây không phải lần đầu tiên các đảng viên Nam Bộ báo cáo với đảng những hiểu biết nói trên về Lê Đức Anh.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 8)

    Trả lờiXóa
  38. (Lê Đức Anh-phần 8)

    Từ năm 1982, khi được tin Lê Đức Anh vào bộ chính trị khóa 5, đồng chí thiếu tướng Tô Ký và hai đồng chí Bảy Cống và Năm Thi bàn nhau và đã làm báo cáo gởi ủy ban kiểm tra trung ương đảng và thường vụ thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không có hồi âm!

    Cuối năm 1986 đầu năm 1987, khi thấy Lê Đức Anh lại được bầu vào bộ chính trị rồi làm bộ trưởng bộ quốc phòng sau hai cái chết bất ngờ của hai đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn, đ/c Nguyễn Văn Thi lại viết thơ tay gởi trực tiếp đến các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Lê Đức Thọ nói rõ lai lịch và những hành động đáng ngờ của Lê Đức Anh trước và sau cách mạng tháng 8-1945, nhưng 18 năm qua các khóa trung ương vẫn chưa có trả lời.

    Đến Hội nghị trung ương 11B khóa 8 tháng 2 năm 2001, trước thủ đoạn nói xấu, vu khống quá lộ liễu của Lê Đức Anh nhằm lật đổ tổng bí thơ Lê Khả Phiêu, đồng chí Hai Xô đang làm việc ở Hà Nội biết đ/c Năm Thi từng có đơn tố giác, bèn gọi Năm Thi ra gặp các đồng chí Hai Xô, Nguyễn Đức Tâm, Mười Hương và ủy ban kiểm tra trung ương để làm rõ quá khứ của Lê Đức Anh (đ/c Đồng Văn Cống không ra Hà Nội trực tiếp báo cáo, đã phát biểu vào băng ghi âm gởi ra ủy ban kiểm tra trung ương vào đầu tháng 3 năm 2001). Trong cuộc họp đó, đ/c Nguyễn Đức Tâm xác nhận: khi làm trưởng ban tổ chức trung ương, có nhận được thơ tố giác của đ/c Năm Thi, đã báo cáo với Lê Đức Thọ nhưng được trả lời là gác lại, giải quyết sau. Thấy Lê Đức Anh được Lê Đức Thọ bảo vệ, đ/c Nguyễn Văn Linh đành phải gác qua. Cũng trong cuộc họp đó, đ/c Hai Xô phát biểu: "Nếu không chặn đứng được mưu đồ của Lê Đức Anh và đồng bọn, thì tình hình nội bộ đảng sẽ ngày càng nghiêm trọng!".

    Như vậy là hơn hai chục năm qua, qua nhiều lần đại hội đảng và nhiều khóa trung ương, chúng tôi đã nhiều lần nói rõ về Lê Đức Anh, nhưng mãi cho đến nay lai lịch, và các hành vi sai trái của nhân vật này vẫn chưa được xác minh và xử lý, gây tác hại nghiêm trọng đến sự trong sạch và vững mạnh, sự đoàn kết và thống nhất của đảng.

    Chúng tôi nhất trí với ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp là "ban chấp hành trung ương khóa 9 cần xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của đảng, pháp luật của nhà nước, và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất kỳ cương vị nào!".

    Chúng tôi tán thành ý kiến của các đ/c Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, Nguyễn Tài v.v. là "không cho phép duy trì mãi một tổ chức siêu đảng, siêu chính phủ, không thể để Tổng Cục 2 tồn tại với quyền hạn quá rộng như nghị định 96/CP cho phép, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tình báo quân sự trực thuộc bộ tổng tham mưu như trước đây".

    Không cho phép tái diễn những hành vi hãm hại người trung thực, như người ta từng vu khống, tước quân hàm và định bắt giam thượng tướng Trần Văn Trà, sau đó phải trả lại quân hàm mà không công bố; từng vu khống với ý đồ hãm hại đại tướng khai quốc công thần Võ Nguyên Giáp!

    Chúng tôi cho rằng: không chỉ riêng vụ T4 mà toàn bộ những vụ việc xảy ra mấy chục năm qua là những mắt xích của một vụ án chính trị nghiêm trọng nhất trong lịch sử 75 năm của đảng, có quan hệ đến sự tồn vong của đảng và đất nước.

    Đây không phải là "chuyện ngày xưa" của mấy vị cách mạng lão thành mà các khóa bộ chính trị và trung ương sau này không thể làm rõ được. Không! Đây là những vấn đề lịch sử quan trọng cần xác minh để soi sáng những vụ việc ngày nay. Mảnh đất Lộc Ninh và không ít nhân chứng cùng thời vẫn còn sống. Chỉ cần có trách nhiệm, có dũng khí và quyết tâm là làm được! Chúng tôi sẵn sàng có một cuộc đối chất trực diện nếu có bộ chính trị yêu cầu!

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 9)

    Trả lờiXóa
  39. (Lê Đức Anh-phần 9)

    Không thể vin vào lý do: "ổn định nội bộ" mà bỏ qua và che giấu việc này, vì nhiều tài liệu đã được công bố trên Internet, nên trong đảng cũng như ngoài đảng, trong nước cũng như ngoài nước, nhiều người đã biết các vụ việc xảy ra. Hồ chủ tịch nói: "Một đảng che giấu khuyết điểm sai lầm của mình là một đảng hỏng!". Bộ chính trị càng bưng bít thì càng mất uy tín, càng làm giảm lòng tin của đảng viên và quần chúng đối với trung ương.

    Đúng như đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh đã cảnh báo: "Đang có những làn sóng bất bình ngầm ngày càng lan rộng. Sự yên lặng hiện nay là sự yên lặng của những quả bom nổ chậm chưa đến giờ hẹn". Tình hình trong Nam cũng vậy.

    Kính mong bộ chính trị và ban chấp hành trung ương lắng nghe tiếng nói đầy tâm huyết của các tướng lĩnh, các cán bộ cách mạng lão thành mà quá trình hoạt động và sự đóng góp cho cách mạng đã chứng minh sự trung thành của họ.

    Giải quyết dứt điểm và thành công vụ án chính trị siêu nghiêm trọng này, kiên quyết loại trừ những phần tử cơ hội ra khỏi các cơ quan quyền lực của đảng và nhà nước, chấm dứt các hiện tượng cá nhân lũng đoạn là việc làm cấp thiết và cực kỳ quan trọng để chuẩn bị cho đại hội toàn quốc lần thứ 10 của đảng.

    Đây cũng là việc làm thiết thực kỷ niệm 75 năm ngày thành lập đảng ta!

    Xin gởi đến các đồng chí bộ chính trị và trung ương lời chào trân trọng và rất mong được sớm trả lời!

    Xin cám ơn.

    Phạm Văn Xô
    Địa chỉ: 225-18 Xô Viết nghệ Tinh, quận Bình Thạnh,
    TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 8.991300

    Đồng Văn Cống
    Địa chỉ: 774-2 Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận,
    TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 8.447328

    Nguyễn Văn Thi
    Địa chỉ: 20B88 Cư xá Nguyễn Trung Trực, đường 3-2, quận 10,
    TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 8.655878”.

    Qua bức thư chúng ta thấy gì? Đó là chính cộng sản đã khẳng định Lê Đức Anh là cai cao su ác ôn chứ không phải viên chức hay công nhân. Vậy mà hắn dám giả danh người lương thiện. Đó là tội ác cần được phanh phui. Ngoài ra xung quanh con người này cũng là một sự thủ đoạn và chống phá ngay cả đồng chí của mình. Do đó nhân cách của Anh chỉ là số không tròn trĩnh.

    Thứ hai, để khẳng định Lê Đức Anh là cai lé đánh đập phu đồn điền cao su chúng ta cùng đọc đoạn trích sau từ báo cáo tổng cục chính trị bộ quốc phòng cộng sản năm 2005: “Việc một số nguồn tin đồng chí Lê Đức Anh đã từng có thời gian làm phu coi đồn điền cao su là có thật. Tuy nhiên sau đó đồng chí đã công khai minh bạch điều này với tổng cục chính trị, ban bí thư trung ương đảng năm 1995. Xét công lao và thành tích của đồng chí trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc và trong suốt quá trình làm cai phu đồng chí không gây tội ác nào với nhân dân nên đảng và nước thống nhất chấm dứt mọi nghi kỵ xung quanh việc này...”.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 10)

    Trả lờiXóa
  40. (Lê Đức Anh-phần 10)

    Mặc dù báo cáo là vậy. Tuy nhiên nếu đọc đầy đủ các báo cáo mật của Vũ Quốc Hùng, hay thư của Nguyễn Chính Tâm (cộng sản kỳ cựu) cho thấy Lê Đức Anh là một kẻ nhan hiểm và mưu mô đấu đá như bản thân cái gốc cai phu độc ác của mình:

    “Nhằm hạ bệ Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trước Đại hội IX bằng việc gây sức ép nhiều mặt để yêu cầu Ban Chấp hành Trung ương phải kỷ luật Lê Khả Phiêu trước khi tổ chức Đại hội IX (bởi vì Lê Khả Phiêu đã qua mặt cả Lê Đức Anh và Đỗ Mười, có ý định giải tán Ban Cố vấn hay chọc gậy bánh xe, không muốn để cho 2 ông Thái thượng hoàng này lộng quyền đứng trên Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương để sai khiến) nên Lê Đức Anh cùng tay sai là Nguyễn Bắc Son đã tiến hành những hoạt động hết sức mờ ám, bỉ ổi, thâm độc và vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và Điều lệ Đảng. Có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó sự tác động và chỉ huy của Lê Đức Anh và Đỗ Mười đã đóng vai trò quan trọng nhất trong việc ngăn chặn Lê Khả Phiêu tiếp tục ứng cử chức vụ Tổng Bí thư trong Đại hội IX của Đảng. Cũng chính vì vậy mà một kẻ ba phải, thiểu năng về trí tuệ nhưng tham lam và hãnh tiến, có mác là người dân tộc thiểu số đã được Đỗ Mười và Lê Đức Anh chọn làm Tổng Bí thư để dễ bề sai khiến. Còn kẻ phản thầy Trần Đình Hoan đã được thưởng cho chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương để còn sắp xếp đệ tử của Đỗ Mười, Lê Đức Anh vào các vị trí then chốt, béo bở của bộ máy Đảng và Nhà nước; Nguyễn Khoa Điềm, đàn em thân tín của Lê Đức Anh đã được bố trí vào Bộ Chính trị để giữ chức Trưởng ban Tưởng Văn hóa Trung ương.

    Đáng tiếc là hình thức kỷ luật của Trung ương đối với Lê Đức Anh và Đỗ Mười là quá nhẹ (chúng tôi không rõ khiển trách hay cảnh cáo) và không được thông báo rộng rãi trong toàn Đảng để tất cả các đảng viên đều biết. Hơn nữa vấn đề man khai ngày vào Đảng của Lê Đức Anh cho đến nay vẫn chưa được kết luận chính thức. Đây không chỉ là trách nhiệm, khuyết điểm của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII mà còn là trách nhiệm nặng nề của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương khóa IX. Vì vậy vấn đề Đảng tịch của Lê Đức Anh cần được làm sáng tỏ trước khi tổ chức Đại hội X của Đảng để lấy lại lòng tin của đảng viên và các cán bộ cách mạng lão thành đối với Đảng.

    Điều đáng buồn hơn nữa là tên tay sai đắc lực của Lê Đức Anh là Nguyễn Bắc Son (kẻ đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và điều lệ Đảng lại được Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trần Đình Hoan đạo diễn, bố trí giữ chức Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên để chui tiếp vào Ban chấp hành Trung ương khóa X. Qua đó chúng ta cũng thấy là thế lực của Lê Đức Anh, Đỗ Mười đang còn khá mạnh và tư cách của Nông Đức Mạnh, Trần Đình Hoan lại quá kém. Cũng may là Hội nghị Trung ương 13 đã loại được Trần Đình Hoan, Nguyễn Chí Vịnh, Nguyệt Việt Tiến... khỏi danh sách ứng cử viên Ban chấp hành Trung ương khóa X. Hy vọng Hội nghị Trung ương 15 và Đại hội X sẽ sáng suốt hơn để loại tiếp Nguyễn Bắc Son và cả Nông Đức Mạnh (vì đã quá tuổi 65, năng lực kém, tham lam, hãnh tiến, nhu nhược, thiếu bản lĩnh quyết đoán nên đã để cho Đỗ mười và Lê Đức Anh lộng hành sai khiến, chỉ biết yêu bản thân mình và nhiều tai tiếng như các thư phản ánh và góp ý kiến của các đồng chí nguyên ủy viên Trung ương Đảng các khóa trước đây như Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Trung tướng Nguyễn Hòa, đồng chí Lê Văn Hiển, đồng chí Nguyễn Trung Tín …, các lão thành cách mạng như đồng chí Nguyễn Văn Thi, Trần Đại Sơn …) ra khỏi danh sách mà Ban chấp hành Trung ương khóa IX giới thiệu cho Đại hội X.

    Nguyễn Chính Tâm
    Lão thành Cách mạng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng” (4)

    Thứ ba, về con người Lê Đức Anh cũng là một kẻ lá mặt lá trái và cũng quen thói cộng sản đó là nói thì hay và làm thì khác. Hẳn chúng ta còn nhớ trong vụ án của anh Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng thì chính Lê Đức Anh đã nói: “Sử dụng bộ đội để cưỡng chế là tuyệt đối sai”.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 11)

    Trả lờiXóa
  41. (Lê Đức Anh-phần 11)

    Nhưng cuối cùng thì Lê Đức Anh đã làm gì? Chỉ là nói mà thôi để rồi bè lũ cướp ngày của đồng chí X đưa anh Vươn vào tù trong khi Lê Đức Anh được tiếng “ vì dân”. Đó chính là bộ mặt thật của Lê Đức Anh cũng giống như nhiều ông già cộng sản “chỉ tốt, chỉ phản tình” khi hết ăn của dân được nữa.

    Ngoài ra, Lê Đức Anh còn là một tên tay sai hèn hạ của Lê Đức Thọ. Bằng chứng, đó là vào ngày 30/4/1975, Lê Đức Thọ hống hách ra lệnh cho Đại sứ Pháp là ông Mérillon phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Sau đó cần Pháp, thì lại sang quỵ lụy như việc vào năm 1989, sang chữa bệnh ung thư ở nhà thương quân đội Val de Grace, ở vùng Paris, năn nỉ Pháp giúp đỡ sau khi biết rõ Liên Xô sẽ sụp đổ, và thất bại trong việc năn nỉ Hoa Kỳ giúp đỡ, vì Hoa kỳ chú trọng đến Trung Cộng lúc bấy giờ. Việc năn nỉ Pháp cũng không mang đến kết quả vì Pháp cũng không có dồi dào về kinh tế và Pháp đặt điều kiện là phải dân chủ hóa chế độ. Điều kiện mà Thọ không chịu. Sau đó Lê Đức Thọ hèn hạ quay sang năn nỉ Trung Cộng. Chính Thọ đã ra lệnh cho 2 tay em của mình là Đỗ Mười và Lê Đức Anh thi hành lệnh của mình, nên mới đi đến quyết định họp với Trung Cộng ở Thành đô vào tháng 3/1990, một cuộc họp bán nước toàn diện cho Trung cộng tiếp nối ý tưởng của Hồ Chí Minh.

    Thứ tư, tội ác của Lê Đức Anh còn thể hiện khi hắn cùng Lê Đức Thọ chỉ đạo đánh sang cả Thái Lan vi phạm luật pháp quốc tế (Xin xem lại “Những sự thật cần phải biết - Phần 22”). Để khẳng định rõ vai trò của Lê Đức Anh trong vụ này chúng ta nên chú ý tới cuốn sách hồi ký “Cuộc chiến tranh bắt buộc” của đại tá cộng sản Nguyễn Văn Hồng. Cuốn sách có đoạn:

    “Tôi nhớ cũng trong mùa khô năm 1982-1983, khi tiến công một loạt các căn cứ còn lại dọc biên giới từ Ô-đa xuống Com Riêng, trung đoàn bộ binh 31 đã cho một lực lượng vượt qua biên giới Campuchia-Thái Lan, bố trí phục kích trên một con đường mòn chạy từ phía Nam lên Ô-đa-con đường này thuộc lãnh thổ Thái Lan. Trong lúc ta đang tiến công vào trận địa, thì có một toán lính theo con đường này tiến vào trận địa, anh em đã nổ súng diệt gọn toán địch. Khi tiến lên thu vũ khí, mới biết được toán địch này là lính biên phòng Thái Lan qua trang bị, phù hiệu và cấp hiệu đeo trên ve áo.

    Lập tức, máy bay trinh sát và máy bay C130 của không lực Thái lên quần lượn và bắn phá dọc biên giới. Chúng đã dùng súng mát 12,7 mm từ trên máy bay vãi đạn xuống đội hình của quân ta. Trước tình hình đó, các đơn vị điện lên Sở chỉ huy sư đoàn: -Có được bắn máy bay không? Đây là một tình huống ngoài dự kiến nên chưa có sự chuẩn bị trước. Chúng tôi đã báo cáo lên Sở chỉ huy Mặt trận. Hôm sau, Mặt trận tăng cường xuống cho chúng tôi mấy cơ cấu phóng A72 (loại tên lửa vác vai đi theo đội hình bộ binh). Tôi ra lệnh cho các đơn vị: -Hãy sẵn sàng! Nếu máy bay bắn vào đội hình của ta thì kiên quyết phải bắn hạ! Song do địa hình ở đây có ảnh hưởng đến tính năng kỹ thuật của loại súng hỏa tiễn này và cũng do trình độ sử dụng súng của anh em chưa tốt, nên khi có máy bay, ta bắn đến 5 quả đạn mà không đạt được kết quả. Tuy nhiên, đây cùng là lời cảnh cáo đối với nhà cầm quyền Thái Lan đã dung túng, bao che cho bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri, can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia.”.

    Qua đoạn trích chúng ta thấy điều gì? Đó là quân đội cộng sản đã vi phạm chủ quyền Thái, bắn chết lính Thái nhưng không xin lỗi mà còn dùng tên lửa phòng không vác vai bắn máy bay của quân đội Thái Lan. Điều đáng nói là quân của Nguyễn Văn Hồng đã xin ý kiến “trên”. Mà “trên” ở đây chính là Lê Đức Anh chỉ huy trực tiếp chiến trường Campuchia giai đoạn đó. Và quyết định đến việc đánh hay không trên đất Thái chính là một kẻ quyền thế hơn nhiều đó chính là Lê Đức Thọ.

    Bạn đọc có thể đọc toàn bộ cuốn sách tại trang của đội ngũ hồng vệ binh cộng sản: (5)

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 12)

    Trả lờiXóa
  42. (Lê Đức Anh-phần 12)

    II. Tham gia tích cực Bán nước:

    Lê Đức Anh là một tên cai phu cao su độc ác. Không những vậy nổi bật lên là tội ác bán nước cho Trung cộng một cách tích cực cùng bè đảng cộng sản. Hiện nay đã có rất nhiều tài liệu nói rõ ràng về điều đó.

    Thứ nhất, để vấn đề được minh bạch sáng tỏ, hãy đọc cuốn “Hồi ký Trần Quang Cơ” của ông Trần Quang Cơ, nhân chứng lịch sử giữ vai trò quan trọng trong Bộ Ngoại Giao của cộng sản Hà Nội vào thời điểm đó. Về vai trò làm đầu sai trong việc đưa nước ta vào tròng ách nô lệ giặc phương Bắc của Nguyễn Văn Linh, TBT đảng cs VN và Lê Đức Anh - đại tướng. Ông Trần Quang Cơ viết:

    “Ngày 5.6.90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, TBT Nguyễn Văn Linh đã mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến Nhà khách Trung ương Đảng nói chuyện thân mật để tỏ lòng trọng thị đối với Bắc Kinh. Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê bình của Đặng (nói qua Kayson), Nguyễn Văn Linh nói: "Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa". Anh sốt sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để "bàn vấn đề bảo vệ Chủ nghĩa xã hội" vì "đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội... chúng âm mưu diễn biến hòa bình, mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành trì XHCN, nhưng lại đang có nhiều vấn đề. Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin ….Sáng 6.6.90, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh lại gặp riêng và mời cơm đại sứ Trương Đức Duy. Cuộc gặp riêng chỉ giữa hai người, Trương Đức Duy vốn là thông dịch, rất thạo tiếng Việt nên không cần có người làm phiên dịch. Nội dung cuộc gặp này mãi đến ngày 19.6 trong cuộc họp BCT để đánh giá cuộc đàm phán 11-13.6 giữa tôi và Từ Đôn Tín, Lê Đức Anh mới nói là đã gặp Trương Đức Duy để nói cụ thể thêm ba ý mà anh Linh đã nói với đại sứ Trung Quốc (tham tán Lý Gia Trung và Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn) đã cho ta biết nội dung câu chuyện giữa Lê Đức Anh và Trương Đức Duy. Còn đại sứ Trung Quốc cho anh Ngô Tất Tố, Vụ trưởng vụ Trung Quốc biết là trong cuộc gặp ông ta ngày 6.6, anh Lê Đức Anh đã nói khá cụ thể về "giải pháp Đỏ": "Sihanouk sẽ chỉ đóng vai trò tượng trưng, danh dự, còn lực lượng chủ chốt của hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Polpot, Trung Quốc và Việt Nam mỗi bên sẽ bàn với bạn Campuchia của mình, và thu xếp để hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề. Địa điểm gặp nhau có thể ở Việt Nam, có thể ở Trung Quốc, nhưng ở Trung Quốc là tốt hơn cả. Đây là gặp nhau bên trong, còn bên ngoài hoạt động ngoại giao vẫn như thường... Ngày xưa Polpot là bạn chiến đấu của tôi...”.

    Việc bán nước cho Trung cộng còn được Trần Quang Cơ tiết lộ thông qua sự dắt mối của Vũ Xuân Vinh, ông Trần Quang Cơ viết:

    “Theo Hồ Càn Văn, ngày 23.5.90 Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam Vũ Xuân Vinh đã mời Tùy viên quân sự Trung Quốc Triệu Nhuệ đến để thông báo là TBT Nguyễn Văn Linh và Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh sẽ tiếp Từ Đôn Tín khi đến Hà Nội.”

    Qua đây cho thấy được là Lê Đức Anh chính là một tên bán nước và nhiệt tình trong việc đưa Việt Nam thành nô lệ cho Trung cộng.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 13)

    Trả lờiXóa
  43. (Lê Đức Anh-phần 13)

    Thứ hai, bên cạnh hồi ký của Trần Quang Cơ là “hồi ký” của đại sứ Trung cộng Trương Đức Duy tại Hà Nội cùng thời điểm đó. (Bản tiếng Việt của dịch giả Quốc Thanh). Trước hết là những cuộc gặp bí mật giữa Lê Đức Anh với đại sứ Tầu Trương Đức Duy và giữa TBT Nguyễn Văn Linh với Trương Đức Duy do chính sứ Tầu viết. Về vai trò làm tay sai cho giặc của Lê Đức Anh, cũng chính do đại sứ Tầu Trương Đức Duy viết:

    “Hơn 10 năm qua, quan hệ Trung-Việt ở trạng thái không bình thường, sứ quán không có mối liên hệ nào với người tin cậy bên Nguyễn Văn Linh, vậy thì nên thông qua con đường nào đây để yêu cầu được gặp riêng một cách ổn thỏa hơn? Tôi triệu tập ngay cuộc họp Đảng ủy mở rộng, mời mọi người bàn bạc ra mưu sách. Ý tưởng thông qua con đường Vụ đối ngoại Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam thì sợ sẽ không giữ được bí mật, mà cũng khó để thực hiện “gặp riêng”.

    Có đồng chí nêu xem có thể thông qua con đường quân đội được không? Tôi cho như thế sẽ khá là ổn thỏa, lại càng có lợi hơn cho việc bảo mật. Thế là tôi liền nghĩ tới Thiếu tướng Vũ Xuân Vinh Cục trưởng Cục đối ngoại Bộ quốc phòng mà tôi khá thân thiết, từ ngày đến Việt Nam lần này, tôi đã gặp ông ta vài lần, quan hệ rất tốt, có thể thông qua ông ta để yêu cầu được gặp Đại tướng Lê Đức Anh (Ủy viên Bộ chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ quốc phòng) thân thiết với Nguyễn Văn Linh, rồi xin Lê Đức Anh giúp đỡ bố trí cho tôi bí mật gặp Nguyễn Văn Linh.

    Mọi người thấy biện pháp này có thể được. Thế là tôi lập tức cho Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ liên hệ chính thức với Cục trưởng Vũ Xuân Vinh. Khi gặp Cục trưởng Vũ Xuân Vinh, Tùy viên quân sự Triệu đã trịnh trọng đề xuất: “Đại sứ Trương có việc gấp và quan trọng muốn được gặp Bộ trưởng Lê Đức Anh. Xin Cục trưởng bố trí cho ngay”.

    Chiều hôm đó, Vũ Xuân Vinh trả lời Tùy viên quân sự Triệu rằng: “Đồng chí Đại tướng rất vui lòng được gặp đồng chí Đại sứ, 8 giờ sáng hoặc 7 giờ tối mai đều được. Đại tướng còn nói, sau này đồng chí Đại sứ có muốn gặp ông thì cứ Cục đối ngoại Bộ quốc phòng bố trí là được”. Vào 8 giờ sáng ngày 20 tháng 8, xe của tôi chạy thẳng vào Bộ quốc phòng. Thiếu tướng Vũ Xuân Vinh đón đợi ở cổng tòa nhà, dẫn tôi vào phòng tiếp khách của Bộ trưởng rồi lui ra, khép chặt cửa lại. Tôi đang tiến thẳng vào thì Bộ trưởng Lê Đức Anh cũng bước vào phòng khách từ một cửa khác, khi gặp nhau Lê Đức Anh bắt tay, ôm tôi rất nhiệt tình.

    Tôi nói xã giao: “Thực sự được xin lỗi, mới sáng ra đã tới làm phiền đồng chí Đại tướng”. Đại tướng Lê Đức Anh mỉm cười bảo: “Đại sứ đến lúc nào tôi cũng tiếp”. Trong phòng khách ngoài hai chúng tôi ra, không có ai đi theo. Chuyện trò hàn huyên xong tôi chuyển ngay sang chủ đề chính, đầu tiên bày tỏ lãnh đạo Trung Quốc rất coi trọng mối quan hệ Trung-Việt, hiện nay tình hình quốc tế phát triển rất nhanh, thời gian không chờ đợi mình, cả hai bên cần chớp lấy thời cơ, nhanh chóng loại bỏ trở ngại là vấn đề Campuchia, từ đó thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.

    Sau đó tôi nhắc đến lời nhắn của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã được ghi lại gửi cho tôi, tôi cảm thấy hết sức quan trọng, cho nên mong được gặp riêng Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh để trực tiếp lắng nghe ý kiến của Tổng bí thư, đồng thời tôi cũng có một vài điều nữa cần nói với Tổng bí thư. Tôi nói, hiện giờ mà thông qua con đường khác sẽ có khó khăn, cho nên xin phiền đồng chí Đại tướng giúp cho. Lê Đức Anh nói rất thoải mái: “Đây quả thực là việc hết sức quan trọng, hôm nay tôi sẽ báo cáo lại yêu cầu của Đại sứ với Tổng bí thư”. Tiếp đó, Lê Đức Anh cũng nói về hai quan điểm, đại ý là: Thứ nhất, nhấn mạnh Nguyễn Văn Linh rất có tình cảm với Trung Quốc, luôn chủ trương thân thiện với Trung Quốc, từ sau khi nhậm chức Tổng bí thư vào năm 1986 đã làm rất nhiều việc để khôi phục lại mối quan hệ giữa hai nước hai Đảng. Trước tình hình thế giới phức tạp như hiện nay, việc thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước lại càng trở thành niềm mong muốn ấp ủ của ông ấy...”

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 14)

    Trả lờiXóa
  44. (Võ Văn Kiệt phần 2 )

    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6/1996), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị và được cử làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị.

    Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX (1992-1997), đồng chí được Quốc hội bầu làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.

    Từ tháng 12/1997 đến tháng 4/2001, đồng chí được Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Đồng chí là đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX. Do có công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, nhiều huân chương, huy chương cao quý khác và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng”.

    Chúng ta đọc nguyên văn tiểu sử của Võ Văn Kiệt cho thấy một con người tham gia đảng cộng sản suốt từ năm 17 tuổi cho đến chết với hơn 60 năm tuổi đảng thì khó có thể trong sạch và tử tế. Và cũng chính bởi không tử tế nên ông ta đã được băng đảng cướp phong tặng nhiều huân huy chương giành cho những kẻ có thành tích của đảng.

    Theo thông tin được loan tải rộng rãi từ lề dân trên Internet, Võ Văn Kiệt là một chính trị gia háo dâm và có nhiều thủ đoạn. Ông là một nhân vật chủ chốt trong vụ tham nhũng hàng chục triệu USD về dự án xây dựng đường giây điện cao thế 500KVA từ Bắc vào Nam. Vì không thể làm ngơ được trước áp lực quá mạnh của dư luận, Võ Văn Kiệt buộc lòng phải hy sinh một đàn em của ông là Vũ Ngọc Hải, Bộ trưởng Năng lượng, với bản án ba năm tù về tội “lãng phí tài sản nhà nước”. Hải âm thầm chịu đựng làm vật tế thần và sau khi mãn hạn tù (được ân xá sớm), ông ta được bổ nhiệm chức vụ Tổng Giám đốc Công ty Điện lực Việt Nam, một trong những nơi hái ra tiền.

    Vợ của Võ Văn Kiệt là Phan Lương Cầm, cựu giảng viên ĐHBK Hà Nội. Bà này là vợ hai của ông Kiệt, bà vợ cả là Trần Kim Anh đã chết năm 1966. Phan Lương Cầm là người đứng sau giật dây nhiều vụ áp-phe không lồ. Báo chí quốc tế đã có thời kỳ gọi bà là “Mrs 10%” (Bà Mười Phần Trăm) vì đó là tỷ lệ chia chác cho bà trong các hợp đồng thương mại được ký kết ở cấp Chính phủ. Phan Lương Cầm “núp bóng” chồng để buộc cán bộ kỹ thuật phải sử dụng hàng trăm ngàn chiếc cột điện đặc chế do bà sản xuất trong dự án xây dựng đường dây Bắc - Nam. Theo sự đánh giá của các chuyên gia ngoại quốc, những chiếc trụ điện tráng kẽm theo công thức của “khoa học gia” Phan Lương Cầm là quá mắc và dễ hỏng nhưng nhà nước đã phải trả cho bà hàng chục triệu USD. Lợi dụng chức vụ của chồng và được chồng bảo kê, bà Cầm cũng đã tiến hành rủa tiền và chiếm đất của dân qua dự án sân Golf Đồng Mô - Hà Nội và nhiều biệt thự ven biển Mỹ Khê - Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh - Khánh Hòa.

    Một scandal khác suýt khiến Võ Văn Kiệt rơi đài là vụ một đơn vị hải quan và biên phòng ở Hạ Long - Quảng Ninh bắt giữ hơn 200 chiếc xe hơi mới toanh nhập cảng lậu vào Việt Nam bởi “quý tử của Thủ tướng”. Ông đã tức tốc đích thân can thiệp vào vụ này trước khi nó nổ lớn và đã “giải quyết êm thấm” bằng cách thăng chức cho các sĩ quan biên phòng đã giải thoát cho cậu con trai của ông. Con trai của Võ Văn Kiệt là “một đại gia trong các đại gia cỡ lớn” ở Việt Nam. Tuy còn trẻ (trên dưới 30 tuổi) nhưng y là chủ nhân của bãi biển Ty-Top và khách sạn hạng sang Plaza Hotel ngay ở trung tâm Sài Gòn. Theo một tài liệu có thể tin cậy được, gia đình Võ Văn Kiệt có khoảng $370 triệu USD trong các ngân hàng ngoại quốc, không kể hàng chục bất động sản thương mại trong và ngoài nước.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 3 )

    Trả lờiXóa
  45. (Võ Văn Kiệt phần 3 )

    Ông Võ Văn Kiệt tuy không ra mặt, nhưng vợ con ông ta khuynh đảo các gói thầu, hợp đồng kinh tế béo bở. Bà Cầm tuy không đứng tên nhưng vẫn là bà ta trúng thầu: Cung cấp sắt đường dây 500 klv (ăn chênh lệch sắt nhập tốt bằng sắt nấu lại từ phế phẩm), Hồ Dầu Tiếng - Tây Ninh (bị rò), Đường HCM đoạn từ Đà Lạt đến Bình Dương (ông Võ Văn Kiệt đã làm lễ khởi công ở Buôn Mê Thuật sau bị mang tiếng, bỏ). Tất cả các quota nhập xe hơi đều phải qua tay bà Cầm... Không những thế, trước khi nhắm mắt lìa đời ông sợ vợ con ông sau này bị đám còn sống "cải tạo tư sản mại bản" nên dặn dò 1 câu mà nhiều người biết: "Phải tuân thủ tổ chức" tức là muốn giàu bền vững phải bám vào đảng.

    Cái mà người dân chúng ta nhìn thấy bề ngoài đó là thủ tướng Kiệt xé rào mở cửa kinh tế thi trường tự do định hướng XHCN là do đàn anh Trung cộng chỉ thị cho phép sau mật ước Thành Đô 1990 chứ không phải là chủ trương của ông Kiệt cũng như cộng sản Việt Nam. Thời điểm đó Trung cộng đã mở cửa làm ăn với Mỹ và thế giới tự do vào cuối thập niên 70. Trung cộng đã chỉ đạo cộng sản Việt Nam và ông Kiệt phải tuân theo để khỏi bi sụp đổ như Đông Âu và Liên Xô.

    Ông Kiệt sinh năm 1922. Ngoài 2 bà vợ Phan Lương Cầm và Trần Kim Anh thì ông Kiệt còn một người con rơi mang tên Phan Thành Nam sinh năm 1952, hiện là chủ công ty Tradico. Con gái ông Kiệt là Phan Hiếu Dân sinh năm 1955 hiện làm chủ rất nhiều tài sản ở Sài Gòn, bất cứ nơi nào người ta cũng nghe nói đến tài sản của bà Dân.

    Có điều lý thú là bà Cầm sinh năm 1943 thì không thể có con là Phan Thành Nam sinh năm 1952 khi bà Cầm 10 tuổi được. Như vậy Phan Thành Nam rõ ràng là con của 1 bà vợ khác của ông Kiệt hoặc lý lịch công khai của bà Cầm là man trái vì bà sinh năm 1943. Qua Nga năm 1970, thì năm 1973 trở thành tiến sĩ giáo sư, với nhiều chức vụ quan trọng như giám đốc chủ tịch của nhiều hiệp hội khoa học kỹ thuật. Vì chính những cái lối con quan vợ quan học 3 hôm trở thành Tiến Sỹ giáo sư, nên đất nước chúng ta hiện nay không sản xuất nổi một chiếc đinh vít cho đúng với nghĩa đinh vít.

    Cũng cần đọc thêm là qua hai nguồn Wiki được chấp nhận bởi cộng sản thì Phan Thành Nam sinh năm 1952 khi bà vợ cả Trần Kim Anh chưa mất (Năm 1966). Như vậy trong lúc vợ cả còn sống thì ông Kiệt cũng giống như bao nhà “cách mạng” khác lang chạ, vợ nọ con kia. (2), (3).

    Tuy nhiên đây chỉ là vài nét sơ qua về con người và gia đình ông Kiệt. Trong bài viết này chủ yếu đến 2 tội ác của ông Kiệt: Tội khủng bố trong chiến tranh, cướp bóc trong chiến dịch đánh tư sản và tội đàn áp dân chủ tự do. Bài viết này với những sử liệu cho thấy sự thật khác hẳn sự ca tụng sai lệch của cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức để đánh bóng cho tên tuổi của một người thân của Huy Đức - ông Võ Văn Kiệt.

    II. Khủng bố trong chiến tranh và tham gia tích cực vào việc “Cướp ngày”

    1. Một chỉ huy khủng bố:

    Thứ nhất, Võ Văn Kiệt trong chiến tranh đã góp công không nhỏ vào việc cướp đoạt VNCH của cộng sản. Đặc biệt trong chiến dịch khủng bố và tráo trở Tết mậu Thân 1968 thì Võ Văn Kiệt góp công lớn. Đây là bài viết của Lê Thanh Hải - bí thư SG trên báo Sài Gòn Giải Phóng có đoạn:

    “Cuối tháng 10 năm 1967, Hội nghị Trung ương Cục miền Nam họp và ra Nghị quyết về tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa (Nghị quyết Quang Trung). Thực hiện “Nghị quyết Quang Trung”, Khu trọng điểm được thành lập bao gồm Khu Sài Gòn - Gia Định và một phần đất của các tỉnh tiếp giáp với Sài Gòn (tạm thời giải thể Khu Sài Gòn - Gia Định). Khu trọng điểm gồm 6 phân khu, đặt dưới sự lãnh đạo của một Đảng ủy gồm các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà và hình thành 2 Bộ Tư lệnh Tiền phương Bắc (I) và Nam (II). Đồng chí Sáu Dân - Võ Văn Kiệt làm “Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương II”.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 4 )

    Trả lờiXóa
  46. ( Võ Văn Kiệt phần 4 )

    Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 ở Khu trọng điểm, đồng chí Sáu Dân - Võ Văn Kiệt với tư cách người đứng đầu Bộ Tư lệnh Tiền phương II (Nam Sài Gòn) đã cùng Đảng ủy Khu trọng điểm và Bộ Tư lệnh Tiền phương lãnh đạo, chỉ huy đánh vào những mục tiêu chiến lược hàng đầu của địch, góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và đàm phán với ta ở Paris.” (4).

    Như vậy tội khủng bố của Kiệt là không thể chối bỏ.

    Ngoài ra bài báo của Lê Thanh Hải còn khẳng định Võ Văn Kiệt cũng là một trong kẻ chủ chốt tiến hành cướp phá VNCH trong năm 1975:

    “Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được thành lập, sau đó được vinh dự mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh gồm 12 đồng chí, trong đó có đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục được phân công phụ trách công tác tiếp quản sau giải phóng.”

    Thứ hai, cũng vẫn là báo đảng ca ngợi “thành tích” khủng bố của đồng chí Võ Văn Kiệt như sau:

    “Trung ương nhìn thấy những khó khăn của khu Tây Nam bộ, nên tháng 11/1971 đã điều động đồng chí Võ Văn Kiệt về làm Bí thư Khu ủy khu Tây Nam bộ.” Và kết quả chỉ huy của “đồng chí” Võ Văn Kiệt như sau:” Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Tây Nam bộ quyết định mở chiến dịch tổng hợp, chọn U Minh - Chương Thiện làm trọng điểm I; Trà Vinh làm trọng điểm II. Qua 6 cao điểm, từ tháng 4 - 8/1972, khu Tây Nam bộ đã loại khỏi vòng chiến đấu 26.000 tên địch, giải phóng trên 19 xã với hơn 400.000 dân, khí thế của cán bộ, quân và dân tăng lên rõ rệt.” (5)

    Bỏ qua cái mỹ từ “giải phóng” thì chúng ta con số người chết do sự chỉ đạo của Võ Văn Kiệt đi xâm lăng nước khác cũng cho thấy ông ta là con người như thế nào.

    Thứ ba, cũng nói đến vai trò của Võ Văn Kiệt quan trọng đến thế nào trong chiến dịch ăn cướp miền năm năm 1975 thì báo đảng đã khẳng định:

    “Ngay sau đó, Bộ Chỉ huy Miền đã họp và quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị và bàn các giải pháp thực hiện. Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã thông qua kế hoạch kết hợp tiến công quân sự với phong trào nổi dậy của quần chúng. Trung ương Cục cử đồng chí Võ Văn Kiệt chuyên lo vấn đề tổ chức và chỉ đạo kế hoạch nổi dậy của quần chúng phối hợp với cuộc tiến công của các binh đoàn chủ lực của ta và thành phố. Trung ương Cục cũng chỉ đạo các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tự giải phóng với phương châm: xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh.” (6)

    Như vậy chúng ta thấy rõ ràng trong sự sụp đổ của miền Nam bởi những kẻ xâm lăng miền Namthì Võ Văn Kiệt có vai trò không hề nhỏ chút nào.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 5 )

    Trả lờiXóa
  47. ( Võ Văn Kiệt phần 5 )

    2. Tham gia cướp ngày:

    Để cướp đoạt tài sản và tiền của thì đảng cộng sản đã tiến hành chính sách đánh tư bản, đổi tiền và tịch thu tài sản của nhân dân dưới mỹ từ “đánh gian thương”, “tiểu tư sản”. Hậu quả đó là hàng triệu người bị cướp nhà giao cho cán bộ, bị mất cơ nghiệp và bị đẩy đi kinh tế mới. Kết quả X-2 và X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, Mai Chí Thọ... thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải. Sau đó cộng sản tích cực đẩy bà con đi kinh tế mới. Để minh chứng cho việc Võ Văn Kiệt có vai trò không nhỏ thì chúng ta cần phải có những dẫn chứng sau đây:

    Thứ nhất, năm 1976, ông Kiệt là ủy viên Bộ Chính Trị (dự khuyết), bí thư Sài Gòn (đã bị cưỡng ép đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh). Những kế hoạch đánh tư sản, ông ta không thể không biết và không tham gia. Kinh tế miền Nam nói riêng, Việt Nam nói chung từ đó bắt đầu bị suy kiệt. Mặc dù sau 1975, cộng sản tiếp quản một cơ sở sản xuất phồn thịnh ở thành phố, và vùng đất trù phú ở nông thôn. Võ Văn Kiệt tiếp sức cùng Đỗ Mười phá nát cơ sở công nghiệp thương mại Sài Gòn. Theo hệ thống chính trị thì Võ Văn Kiệt không thể không “đồng tình” để rồi không tham gia. Vì nếu không tham gia đồng tình với những kẻ cướp ngày (Xem “Những sự thật cần phải biết” phần 13 - Những kẻ cướp ngày) thì ông ta đã không thể đứng vững và tiến xa trong nhịp đập chung của những kẻ ăn cướp.

    Thứ hai, miền Nam Việt Nam đến ngày 30/04/1975 vẫn còn nguyên các công trình kinh tế, nhà máy, hạ tầng cơ sở, bệnh viện, trường học, giáo dục của 1 nền kinh tế đúng đắn: kinh tế thị trường. Cho đến ngày 30/04/1975 tại miền Nam công nhân vẫn còn việc làm tại các khu công nghiệp như tại Biên Hòa. Nông dân miền Nam vẫn vừa làm vừa chơi vẫn dư dả. Dưới sự lãnh đạo "tài tình và sáng suốt" của đcs Việt Nam trong đó có Võ Văn Kiệt chỉ sau 5 năm "giải phóng" cả nước sắp chết đói. Cũng vì sự "tài tình" mà đồng bằng sông Cửu long là vựa lúa của cả nước mà không sản xuất nổi gạo nuôi sống cả nước?. Chính Võ Văn Kiệt và đảng cộng sản đã tiến hành để cướp bóc đến thảm trạng chết đói của dân. Tại sao các nhà máy tại Biên hòa và toàn miền nam phải đóng cửa để công nhân thất nghiệp ra đứng đầy đường nếu không có "công" của Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười...?

    Nếu nền kinh tế thị trường tại miền Nam không bị Võ Văn Kiệt và đảng cộng sản bóp cổ chết thì Việt Nam chưa đến nỗi mạt, xếp hạng gần cuối bảng kinh tế thế giới như ngày hôm nay. Đảng cs Việt Nam đã làm dân tộc ta điêu đứng và đói khổ vô hạn. Chính vì sợ dân chết đói sẽ làm loạn miền Nam mà cộng sản bắt buộc phải “xé rao” bằng cách thức trợ giá của Võ Văn Kiệt. Ngoài ra cũng là một mũi tên trúng hai đích để mị dân rằng đảng và Võ Văn Kiệt “lo cho dân” nhưng thực chất là dùng miếng ăn để dễ bề cai trị nhân dân Miền Nam đang quen với một chế độ tự do và no ấm thực sự như VNCH. Như vậy trong việc cướp của và “xé rào” thì Võ Văn Kiệt đã khéo ăn vụng và chùi mép để lấy tiếng “tiến bộ”.

    Thứ ba, nói về hành động đánh tư sản hay còn gọi là “cướp ngày” thì chính cộng sản đã công nhận Võ Văn Kiệt có vai trò không nhỏ. Trong văn kiện đại hội đảng cộng sản tháng 4 năm 1979 (Số 03/VKĐ- BCT) khi đánh giá về tình hình miền Nam có đoạn trang 3:

    “Trong 4 năm qua chúng ta đã giải quyết thành công nạn tư bản mại bản tại miền nam do tàn dư của chế độ cũ để lại. Thành công có sự đóng góp không nhỏ của các đồng chí trong bộ chính trị, đặc biệt là các đồng chí Đỗ Mười, Mai Chí Thọ, Võ Văn Kiệt và các đồng chí trong ủy ban quân quản thành phố. Việc đánh tư sản mại bản đã được thực hiện nghiêm túc và đạt được nhiều thắng lợi quan trọng...”

    Thì ra đảng công nhận Võ Văn Kiệt “có công” lớn trong đánh cướp của cải của nhân dân đây mà.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 6)

    Trả lờiXóa
  48. (Võ Văn Kiệt phần 6)

    Cũng văn kiện này khẳng định chính sách đẩy nhân dân Miền Nam đi kinh tế mới sau khi cướp bóc của họ nhà cửa tài sản mà Võ Văn Kiệt tham gia chính yếu:

    “Ngoài việc đánh tư bản. Quân ủy trung ương đã chỉ đạo ủy ban quân quản triệt để thực hiện chính sách đưa người dân đi kinh tế mới.”

    Chúng ta hẳn cũng đã biết Võ Văn Kiệt là thành viên chủ chốt của ủy ban quân quản thành phố SG. Vậy thì việc thực hiện chính sách đẩy dân đi kinh tế mới Võ Văn Kiệt không thể “vô can”.

    Thứ tư, sau khi chiếm được miền Nam, chính sách bắt nhân dân đi làm thủy lợi và thanh niên đi “xung phong” cũng là một tội ác của cộng sản nói chung và Võ Văn Kiệt nói riêng. Để nói về điều này thì báo đảng đã ca ngợi:
    “Tích cực tham gia khai hoang, phục hóa và xây dựng kinh tế. Những năm tháng đầu của cuộc sống hòa bình xây dựng đất nước, Lực lượng TNXP thành phố đã bất chấp nguy hiểm, khó khăn, tham gia tháo gỡ bom mìn, khai hoang phục hóa, làm thủy lợi, cải tạo và xây dựng đồng ruộng để trồng các loại cây nông nghiệp ngắn ngày trên vùng đất hoang hóa ở ngoại thành Thành phố, tham gia xây dựng hàng loạt nông trường và công trình thủy lợi góp phần phát triển kinh tế...” (7)

    III. Một kẻ độc tài, tiêu diệt dân chủ

    Đây là một trong những tội ác nặng nề của Võ Văn Kiệt vì từ lúc Võ Văn Kiệt đã bóp vỡ những đấu tranh dân chủ, bỏ tù người yêu nước và ra nhiều chính sách độc tài. Chính Võ Văn Kiệt cũng đã là người đưa Nguyễn Tấn Dũng - một tên tham nhũng và độc tài lên cai trị Việt Nam.

    Thứ nhất, tại Hội nghị Thành Đô năm 1990, Võ Văn Kiệt là nhân vật quan trọng phái đoàn Việt Nam. Mật ước hội nghị Thành Đô đã đưa Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào Tàu cộng, nguy cơ mất nước cũng phát xuất từ đây. Và để thực hiện cho được nội dung của hội nghị này thì Võ Văn Kiệt đã thực hiện bỏ tù nhiều người yêu nước.

    Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII (tháng 8 năm 1991), Võ Văn Kiệt được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (thay Đỗ Mười). Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX (1992-1997), Võ Văn Kiệt được bầu làm thủ tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.

    Thập niên 90 là thời kỳ của Võ Văn Kiệt có một số vụ án và sự kiện chính trị đáng chú ý:

    Tháng 11/1991: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế bị xử 20 năm tù và 5 năm quản thúc tại gia, cùng với nhà báo Châu Sơn Nguyễn Văn Thuận án 10 năm, trong một phiên tòa chớp nhoáng, không có luật sư biện hộ và không cho công chúng tham dự.

    Tháng 5/1992: Luật sư Đoàn Thanh Liêm bị xử 12 năm tù vì bài viết “Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản” nhằm đặt cơ sở luận lý và pháp lý cho một Hiến Pháp tương lai.

    Tháng 3/1993: Giáo sư Đoàn Viết Hoạt bị xử 15 năm tù, và những bạn đồng chí hướng khác với mức án trên dưới 10 năm, vì ấn hành tờ báo bí mật “Diễn Đàn Tự Do”.

    Tháng 12/1993: Việt kiều Kỳ Ngọc Thanh và 4 người thuộc Liên Minh Hùng Gia Đại Việt cùng 2 nông dân với bản án tổng cộng 47 năm, về vụ thực hiện Chiến Dịch Nguyễn Trãi đòi hỏi đa nguyên đa đảng, và tổ chức 150 nông dân biểu tình trước Sở Thú Sài-gòn vào ngày 20/5/1991 nhằm yêu cầu giải quyết công bằng ruộng đất.

    Tháng 8/1995: Giáo sư Nguyễn Đình Huy bị xử 15 năm tù giam, và những bạn đồng chí hướng khác với mức án trên dưới 10 năm, vì hoạt động trong Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc Và Xây Dựng Dân Chủ, tiến hành tổ chức công khai Hội Nghị Quốc Tế Về Vấn Đề Phát Triển Việt Nam tại Sài Gòn.

    Như vậy suốt thời kỳ Võ Văn Kiệt thì việc bỏ tù người yêu nước cũng diễn ra như cơm bữa và nói ông ta “ dân chủ”, “xé rào” là lố bịch.

    Thứ hai, ngoài việc bất bớ các nhà yêu nước, đấu tranh cho dân chủ thì Võ Văn Kiệt cũng ra những chính sách cho phép đàn áp nhân quyền và dân chủ. Hãy thử điểm xem ông ta đã làm gì.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 7)

    Trả lờiXóa
  49. (Võ Văn Kiệt phần 7)

    Tháng 4/1997: Nghị định 31/CP do chính ông Võ Văn Kiệt ký ban hành nhằm quản chế hành chánh - một công cụ pháp luật chính yếu để trấn áp các nhân vật tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền. Nghị định 31/CP ban hành ngày 14/04/1997 cho phép giam giữ công dân ngay tại gia đình (quản chế tại địa phương) mà không cần xét xử, mở đường dễ dàng hơn cho những đợt trấn áp sau đó của đảng cộng sản VN đối với những người thể hiện công khai chính kiến khác biệt. Có thể có người cho rằng Võ Văn Kiệt chỉ là người phải chấp hành kỷ luật đảng hay nguyên tắc “tập trung dân chủ” của đảng cộng sản VN khi hạ bút ký vào văn bản phản dân chủ đó. Nhưng nếu vậy, thì ông ta làm thủ tướng làm gì? Bù nhìn chăng? Hoàn toàn không phải vậy mà là sự đồng thuận.

    Ngoài ra để đánh phá công cuộc đấu tranh của người Việt tự do thì chính Võ Văn Kiệt đã ra "Nghị quyết 36/CP" để gọi kẻ cựu thù là khúc ruột ngàn dặm, một bộ phận không thể tách rời. Đến nay ai cũng biết đó là nghị quyết vừa để rút ruột những người Việt tị nạn cộng sản. Vừa để cho phép đánh phá phong trào tự do thông qua chiêu bài “hòa hợp, hòa giải”.

    Như vậy Võ Văn Kiệt đâu có phải là nhà dân chủ hay là một thứ tiến bộ gì? Thực chất là một thành viên nằm trong tập đoàn độc tài, bán nước và có khả năng chùi mép cao.

    Thứ ba, thời Võ Văn Kiệt làm thủ tướng cũng là thời Trung Tướng Trần Độ bị vùi dập. Sách “Nhật ký rồng rắn” của ông viết trong giai đoạn 2000-20012 bị tịch thu và cấm xuất bản... Trích đoạn từ “Nhật Ký rồng rắn” của ông Trần Độ:

    “Thật ra Đảng Cộng sản VN từ lâu đã không còn tin vào miệng lưỡi của chính mình nhưng vì tham lam vô độ đam mê quyền lợi và vật chất nên cứ phải cố đóng trò để duy trì độc Đảng độc quyền, suốt ngày đóng trò, cả năm đóng trò, ở đâu cũng thấy các vai hề, ở đâu cũng thấy các trò lừa bịp. Suốt ngày đêm, suốt năm tháng cũng lúc nào cũng chỉ nghe thấy những lời nói dối, nói lừa.”

    Ngoài ra vụ án liên quan đến ông Hà Sỹ Phu cũng có bàn tay của Võ Văn Kiệt. Đó là vụ án “cố ý làm lộ bí mật nhà nước” xảy ra năm 1995 khi Võ Văn Kiệt đương giữ chức Thủ tướng, trong đó tài liệu được coi là “bí mật nhà nước” là bức thư của đương kim Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi cho Bộ Chính trị đề ngày 09/08/1995. Nhưng, xét từ hình thức đến nội dung, bức thư đó không thuộc qui định tài liệu Tối mật của các qui phạm pháp luật đương thời (Pháp lệnh về Bảo vệ bí mật Nhà nước, Qui chế Bảo vệ bí mật Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định 84/HĐBT ra ngày 9/3/1992). Bức thư vừa kể còn được phổ biến khá rộng rãi trong dân chúng vào trước khi xảy ra vụ án và chính ông Hoàng Hữu Nhân, cựu Bí thư thành ủy Hải Phòng, một cán bộ cộng sản lão thành, đã viết lên bản sao của bức thư đó rằng: “Chẳng có gì đáng gọi là “bí mật quốc gia”. Không đăng báo, phát thanh là một thiếu sót.”

    Những “bị cáo” nạn nhân trong vụ án đó là ông Lê Hồng Hà, Đại tá công an về hưu, ông Nguyễn Kiến Giang, cựu Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự thật và ông Nguyễn Xuân Tụ (tức Hà Sĩ Phu), Phó tiến sỹ sinh học, cựu Phó giám đốc Phân viện Khoa học Việt Nam tại Đà Lạt. Cả ba người đều bị kết tội với các án tù dài ngắn khác nhau vì bị cáo buộc rằng đã “cố ý làm lộ bí mật nhà nước” là bức thư kể trên. Vụ án đã gây nên nhiều bất bình, phẫn nộ nơi dư luận trong, ngoài nước. Nhiều cán bộ cộng sản lão thành cũng đã lên tiếng bênh vực hay vận động để ủng hộ các bị cáo. Nhưng đương kim Thủ tướng Võ Văn Kiệt hoàn toàn im lặng. Bản thân ông Lê Hồng Hà, vào tháng 01/1998, sau khi ra tù, đã có đơn thư khiếu nại gửi tới các cơ quan tư pháp, tòa án và đồng kính gửi tới chính cá nhân cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt (lúc đó đang giữ chức Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam để đòi hỏi minh oan. Nhưng phản hồi cho lá đơn đó vẫn là sự im lặng, của những nơi, những cá nhân được gửi, từ đó cho tới tận hôm nay.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 8)

    Trả lờiXóa
  50. (Võ Văn Kiệt phần 8)

    Thứ tư, Báo Người Việt mới đây đã thuật lại một tư liệu của WikiLeaks có nói đến Võ Văn Kiệt. Trong một trích dẫn, Người Việt viết:

    “Một nguồn tin ở đồng bằng sông Cửu Long cho biết, cha của Nguyễn Tấn Dũng tử nạn vì bị Hoa Kỳ hay quân đội VNCH tấn công ngay giữa lúc đang họp với hai lãnh đạo của lực lượng nổi dậy lúc đó là Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt.”

    Công điện giải thích: “Vẫn theo nguồn tin này, cả Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt tin rằng họ nợ Dũng một món ‘ân oán’, và có bổn phận phải đền bù cho Dũng. Đó là lý do tại sao, dù có lập trường đối nghịch nhau, cả hai, Lê Đức Anh thuộc thành phần bảo thủ, từng giữ chức chủ tịch nước từ năm 1992 đến 1997, và sau khi về hưu vẫn có rất nhiều thế lực; và Võ Văn Kiệt, cố Thủ Tướng và là nhân vật có khuynh hướng cải tổ nặng ký nhất, đều cùng tiếp tay hỗ trợ cho sự nghiệp chính trị của Dũng.” (8)

    Như vậy rõ ràng Võ Văn Kiệt có vai trò rất quan trọng đưa đến một Việt Nam suy đồi, đổ nát và sắp rơi hẳn vào tay Trung cộng ngày nay dưới “đưa cháu yêu” 3X của Võ Văn Kiệt.

    Thứ năm, Võ Văn Kiệt tự nhận mình là một “học trò” luôn làm theo Hồ Chí Minh. Trích dẫn bài báo trên báo Hà Nội mới của đảng có viết:

    “Về phần mình, đồng chí Võ Văn Kiệt từng bộc bạch: "Trải qua bao năm tháng suốt từ Cách mạng Tháng Tám đến ngày nay, từ những phút gian nguy giữa sống và chết, đến những ngày chia ngọt sẻ bùi từng thắng lợi... tôi càng thấm thía những bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy."” (9)

    Chính vì học tập theo Hồ Chí Minh mà tư tưởng độc tài công an trị, dùng công an để bảo vệ đảng đã được chính Võ Văn Kiệt khẳng định như sau trên một bài viết trên báo điện tử chính phủ cộng sản:

    “Đồng chí ghi nhận và đánh giá cao vai trò của lực lượng Công an đối với sự nghiệp cách mạng: “Mỗi thắng lợi của cách mạng nước ta đều có đóng góp của lực lượng Công an nhân dân... Chúng ta phải quan tâm bảo vệ vững chắc chế độ chính trị và những thành quả cách mạng đã giành được. Công an nhân dân có vai trò rất quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa sống còn này” - Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945-19/8/1995).

    Và: “Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, sự quan tâm chỉ đạo toàn diện công tác công an của đồng chí Võ Văn Kiệt, lực lượng Công an nhân dân đã ngày một lớn mạnh, trưởng thành, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, xung kích trên mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; xứng đáng là “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, thực hiện những mong muốn lúc sinh thời của Đồng chí: “Lực lượng Công an phải thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là công cụ, là “thanh bảo kiếm” của Đảng”.” - Phát biểu của Võ Văn Kiệt tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 52 (tháng 1/1997). (10)

    Với việc dùng từ “Thanh kiếm bảo vệ đảng” đã cho thấy Võ Văn Kiệt cũng chẳng khá hơn là mấy so với các lãnh tụ cộng sản khác khi chủ trương dùng công an bảo vệ đảng mà không bảo vệ dân. Điều này cho thấy những “suy tư” cuối đời của ông ta chỉ là giả tạo.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 9 - Phần Kết)

    Trả lờiXóa
  51. (Võ Văn Kiệt phần 9 - Phần Kết)

    IV. Kết Luận

    Năm 1991, khi thăm chính thức Thái Lan ông Võ Văn Kiệt nói: “Chúng tôi tự hào đã đánh thắng 3 đế quốc to”. Thủ tướng Thái Lan đáp lời: “Chúng tôi tự hào vì không phải đánh nhau với đế quốc to nào cả”. Điều đó cho thấy ông ta vẫn tự hào với những chiến công phi nghĩa gây nhiều đau thương cho dân tộc. Mặc dù sau này khi về già ông ta có câu nói vuốt đuôi “Mỗi dịp 30 tháng tư có triệu người vui thì cũng có triệu người buồn”. Tuy nhiên điều đó không nói lên điều gì cả vì nó giống tất cả sự phản tỉnh của các ông lãnh đạo cộng sản sau khi đã cướp bóc đủ đầy của nhân dân mà thôi.

    Cả một đời Võ Văn Kiệt tham gia cộng sản, tham gia những chiến dịch khủng bố của đảng CSVN trong vai trò chóp bu lãnh đạo, đánh phá và ăn cướp miền Nam sau đó là lên chức dùng công an trị để đàn áp nhân quyền thông qua các vụ bắt bớ và quyết định cụ thể. Điều đó cho thấy tội ác của Võ Văn Kiệt không hề nhỏ và những ai chạy tội cho Võ Văn Kiệt như cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức thì thật thiếu trung thực và ngay thẳng. Một người theo cộng sản đến cuối đời với những tội ác tày trời là không thể tha thứ. Duy có điều Võ Văn Kiệt là kẻ ăn cướp biết chùi mép mà thôi. Tuy nhiên, lịch sử không cho phép nói dối và không thể nào xóa được tội ác của cộng sản nói chung và Võ Văn Kiệt nói riêng. Chính vì vậy cộng sản càng cho thấy đúng là không thể sửa chữa mà phải loại bỏ hoàn toàn.

    16/08/2013
    Đặng Chí Hùng

    Trả lờiXóa
  52. Toàn những lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt nhằm nói xấu các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Dân Việt Nam không bao giờ tin vào những lời lẽ bỉ ổi này đâu.

    Trả lờiXóa
  53. Đúng như vậy,tự do ngôn luận thì cũng phải trong khuôn khổ của pháp luật nhà nước ta quản lí,không thể muốn nói gì thì nói,nói sai lệch sự thật về đảng và nhà nước ta rồi dùng cái quyền tự do ngôn luận để trốn tránh việc phạm tội được.Như thế thì còn đâu là nhà nước nữa.Nhà nước sẽ lắng nghe ý kiến của dân và tiếp thu có chọn lọc chứ không phải dân nói gì nhà nước phải nghe theo.

    Trả lờiXóa
  54. Tự do ngôn luận phải được quy định trong khuôn khổ pháp luật,không thể ngoài pháp luật được.Một số kẻ phản động chống phá nhà nước ta cố tình đưa ra những thông tin này nhằm làm cho người dân cảm thấy nhà nước không cho mình được tư do phát biểu,tự do ngôn luận.Nhưng mọi người nên nghĩ lại rằng,nhà nước ta là nhà nước dân chủ do dân và vì dân,dưới sự quản lí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

    Trả lờiXóa
  55. Nhà nước ta luôn đảm bảo quyền tự do ngôn luận của công dân. Thế mà không hiểu sao các thế lực thù địch luôn rêu rao rằng Việt Nam không có quyền tự do ngôn luận. Thật là nực cười. Đối với những kẻ dùng lời lẽ nhạo báng bôi nhọ nói xấu nhà nước chế độ, những cán bộ uy tín của Đảng Nhà nước thì làm sao có thể cho chúng tự do phát biểu bừa bãi được.

    Trả lờiXóa
  56. Những trang web, blog phản động chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam làm sao có thể để cho chúng hoạt động được. Chúng gây rối loạn và làm xấu đi hình ảnh Việt Nam trong mắt người đọc, nhất là những người ngoài cuộc khi mà chưa biết rõ về đất nước Việt Nam. Cần phải tẩy chay những trang web, blog phản động.

    Trả lờiXóa
  57. Việt Nam là đất nước dân chủ, luôn tôn trọng quyền tự do ngôn luận của các cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên việc tự do ngôn luận phải đảm bảo không vi phạm an ninh quóc phòng của quốc gia, không lợi dụng để chống phá nhà nước, không lợi dụng đẻ xuyên tạc, bóp méo sư thật, bôi xấu Đảng, nhà nước. Nếu vi phạm pháp luật sẽ phải chịu trừng phạt của nhà nước.

    Trả lờiXóa
  58. Trên thế giới ngày nay, tự do ngôn luận là các yếu tố hết sức quan trọng đối với sự ổn định, phát triển của mỗi quốc gia, đồng thời là biểu hiện trực tiếp của quan niệm, chính sách nhân quyền ở quốc gia đó. Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc đều khẳng định các quyền cơ bản này, và Nhà nước Việt Nam đã luôn nghiêm túc tuân thủ các cam kết. Tuy nhiên, bất chấp các thành tựu nhân quyền của Việt Nam, các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí thường viện dẫn từ Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị để bịa đặt Việt Nam "không có tự do ngôn luận", vu cáo Nhà nước Việt Nam "vi phạm tự do ngôn luận".

    Trả lờiXóa
  59. không chỉ ở Việt Nam mới có một số chế tài đối với hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để vi phạm pháp luật, mà ở Hoa Kỳ, CHLB Ðức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore,... đều có luật và điều khoản luật xử lý nghiêm khắc hành vi lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những kẻ thường ca ngợi tự do báo chí của cái gọi là "Việt Nam cộng hòa" cần phải biết rằng, Ðiều 16 Hiến pháp 1956 của chế độ này viết: "Mọi người dân có quyền tự do ngôn luận. Quyền này không được dùng để vu cáo, phỉ báng, xâm phạm đến nền đạo lý công cộng, hô hào nổi loạn, hoặc lật đổ chính thể cộng hòa", Ðiều 12 Hiến pháp 1967 của chế độ này cũng viết: "Quốc gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục".

    Trả lờiXóa
  60. Các nước trên thế giới đều tôn trọng quyền tự do ngôn luận và đưa ra những quy định để bảo vệ quyền tự do ngôn luận của con người. Nghị định 72 luôn tạo điều kiện thúc đẩy cho mọi tổ chức cung cấp, khai thác các dịch vụ trên internet, tìm kiếm, chia sẻ trao đổi thông tin trên mạng. Đồng thời đưa ra những điều kiện để xây dựng các trang thông tin điện tử, trang mạng xã hội theo đúng quy định pháp luật, tạo điều kiện cho các tổ chức cá nhân cung cấp, thu thập thông tin từ Việt Nam đến các nước, và từ các nước về Việt Nam theo khuôn khổ pháp luật và điều ước quốc tế; bảo hộ lợi ích hợp pháp của người sử dụng internet cũng như trang mạng.

    Trả lờiXóa
  61. chan troi ruc ro22:53 14 tháng 10, 2013

    Ở Việt Nam , công dân luôn được tự do ngôn luận không hề có sự cản trở hay ngăn cấm của Nhà nước hay pháp luật. Mọi người có quyền trình bày ý kiến quan điểm cá nhân miễn là không vi phạm pháp luật, phản động, chống phá nhà nước Cộng Hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Những hành vi bôi nhọ nhà nước chế độ chính trị các cán bộ lãnh đạo đều đáng chịu sự trừng phạt của Pháp Luật.

    Trả lờiXóa
  62. Việt Nam chúng ta luôn tôn trọng quyền cơ bản của mỗi công dân, mọi công dân đều có điều kiện để phát triển khả năng và thể hiện quyền làm chủ của mình đối với đất nước. Nhưng để đất nước được phát triển ổn định, bền vững và có quy cũ thì tất cả đều phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật, phải được đặt trong sự quản lý của Đảng, của Nhà nước.

    Trả lờiXóa
  63. Chủ trương, chính sách, pháp luật và sự lãnh đạo, quản lý đúng đắn mang lại lợi ích cho nhân dân và cũng là mục tiêu của cách mạng, nếu sai lầm thì có hại cho nhân dân, cho cách mạng, việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng. Tin vào dân chúng, đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết, có khuyết điểm, thì thật thà thừa nhận trước mặt dân chúng, nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa, dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta.

    Trả lờiXóa
  64. ánh dương xanh07:30 5 tháng 3, 2014

    thực hành dân chủ rộng rãi, đưa mọi vấn đề ra bàn bạc với dân, hỏi ý kiến nhân dân, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp tới lợi ích và cuộc sống nhân dân, trước khi đưa ra quyết định trong chính sách, pháp luật và những chủ trương, biện pháp cụ thể, phát huy trí tuệ và sự sáng tạo, sáng kiến của nhân dân sẽ tránh được những quyết định chủ quan, sai lầm mang tính áp đặt.

    Trả lờiXóa

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Nổi bật trong tuần

Bài đăng nổi bật

Đọc thêm