Thứ Ba, 25 tháng 6, 2013


Phạm Chiến




               "Có lẽ bạn đọc nên hỏi Chủ tịch Trương Tấn Sang đang thăm Bắc Kinh, và Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đang thăm Hoa Kỳ. Hai người này biết rõ vì họ đang làm khách đúng dịp trăng tròn. Tôi thì đồng ý với Nguyễn Quang Thiều, trăng chỉ có một, và nó ngay trên đầu mình, dù bạn đang đứng ở đâu trên trái đất này." (Đăng trên http://hieuminh.org)
Đã có một thời trong khói lửa của cuộc chiến tranh, trước sự giúp đỡ chí tình của các nước bạn XHCN, với tuư duy của một dân tộc "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" chúng ta đã có những lời nói mà nay nghĩ lại đầy sự vô lý và có phần phiến diện. Kiểu như: Cũng là vầng trăng đó thôi nhưng như những trang thơ của nhà thơ Việt Phương thì Trăng Trung Quốc sáng hơn trăng nước Mỹ, hàng hóa Liên Xô tốt hơn hàng hóa Mỹ. Chính cách nghĩ mang hơi hướng của một giai đoạn mà tất cả mọi thứ đều phục vụ cho tiền tuyến, cho thắng lợi của dân tộc ấy đã phù hợp và tạo nên những chiến công lừng lẫy trên chiến trường. Dù có người biết vậy là sai, là không công bằng với sự tiến bộ nhân loại mà nước Mỹ là một kẻ tiên phong nhưng lòng căm thù và khát vọng hòa bình không cho họ được nói điều ngược lại. Đó cũng là điều dễ hiểu và dễ cảm thông.

         Trở ra cuộc chiến tranh đầy đau thương ấy, đất nước Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới mà điểm nhấn là vận hành nên kinh tế thị trường định hướng XHCN - một bước đi mà cho đến nay chứng minh là đúng đắn và phù hợp với thực tiến cách mạng Việt Nam. Chúng ta sẵn sàng chấp nhận làm ăn, hợp tác với các quốc gia không cùng ý thức hệ, thậm chí quá khứ từng là kẻ thù không đội trời chung, lấy mục tiêu phát triển kinh tế trong nước là động lực hàng đầu để phát triển và đi lên. Ở đó, Việt Nam chúng ta đã vận dụng môt cách sáng tạo nguyên tắc: KHÔNG CÓ KẺ THÙ VĨNH VIỄN, CHỈ CÓ LỢI ÍCH LÀ VĨNH VIỄN. Khép lại quá khứ dù có đau thương để phát triển và hội nhập cùng quốc tế là cái mà Việt Nam đang cố gắng thực hiện và cụ thể hóa trong từng bước đi của mình.



Hình ảnh mang tính minh họa cho bài viết


         Sống trong một xã hội không phải bao giờ những cộng đồng người đều thống nhất trong cách nghĩ và hiểu. Sự bất đồng đó trong một chừng mực nhất định làm nên sự đa dạng và khó hòa lẫn của dân tộc chúng ta. Chúng ta đang cố gắng thu hẹp những bất đồng đó bằng những con số, những thành tựu biết nói. Trong một giai đoạn mà nhân loại đều có chung một ánh trăng và không tồn tại cái gọi là ánh trăng nơi nào sáng hơn thì việc khép lại quá khứ, hướng tới tương lai là cần thiết. Chúng ta nhắc lại chuyện xưa, nhắc lại quá khứ nên chăng cũng chỉ để thế hệ hôm nay nhớ về những gì mà thế hệ cha ông đã cống hiến, đã làm và giữ vững tinh thần cảnh giác cao độ chứ không phải nhắc lại, kể lại để chúng ta chịu bó buộc trong những dĩ vãng đã qua. Hôm nay đây khi được sống dưới một không gian hòa bình, không còn tiếng bom rơi đạn nổ, việc phát triển kinh tế, đưa Việt Nam vươn tầm ra biển lớn là trách nhiệm và nghĩa vụ của những con người đương đại.
Cũng vào những ngày ánh trăng độ đẹp nhất này, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sang thăm Trung Quốc theo lời mời của Chủ tịch Tập Cận Bình, Thượng tướngĐỗ Bá Tỵ - Tổng tham mưu trưởng - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đang có chuyến thăm Hoa Kỳ. Chắc hẳn chuyến viếng thăm của người đứng đầu nhà nước Việt Nam và người đại diện cho Bộ Quốc phòng Việt Nam tới hai đất nước từng xuất hiện trong thơ của Việt Phương sẽ khiến những người thích so sánh, hồi tưởng về những thứ đã qua có dịp để chất vấn, luận đàm. Họ sẽ tự gọi tên, luận suy ra những ý đồ, những toan tính mà chỉ người trong cuộc mới biết được kiểu như: "Có lẽ bạn đọc nên hỏi Chủ tịch Trương Tấn Sang đang thăm Bắc Kinh, và Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ đang thăm Hoa Kỳ. Hai người này biết rõ vì họ đang làm khách đúng dịp trăng tròn. Tôi thì đồng ý với Nguyễn Quang Thiều, trăng chỉ có một, và nó ngay trên đầu mình, dù bạn đang đứng ở đâu trên trái đất này." (Đăng trên http://hieuminh.org/)
Cũng nói thêm rằng, việc bình thường hóa quan hệ và thực hiện đối tác song phương với Trung Quốc và Hoa Kỹ không phải đến nay chúng ta mới thực hiện. Việc người đứng đầu nhà nước và các Bộ, ban ngành có các cuộc viếng thăm tới hai quốc gia này không phải đến nay mới có và nhìn ánh trăng từ lâu đã trở thành một câu chuyện thuộc về quá khứ. Việc sắp xếp chuyến viếng thăm là công việc của những nhà ngoại giao và hoàn toàn mang tính ngẫu nhiên, không hề có một sự sắp đặt mang tính dụng công nào./.



 An Chiến





          "Các công ty Internet của Hoa Kỳ như Google và Facebook muốn làm kinh doanh ở trong nước nhưng lại tỏ ra rất thận trọng với môi trường pháp lý tại đây. Blog của ông Đào hiện đang sử dụng giao diện Blogger thuộc Google".

***

          Từ chuyện các Blogger "dân chủ" bị bắt đã khiến nhiều người nghĩ về một vẫn đề mà lâu nay chúng ta vì một lí do nào đó mà lãng quên đi là vấn đề tạo ra những hành lang thông thoáng thu hút những công ty kinh doanh trên lĩnh vực Intenet làm ăn tại Việt Nam. "Các công ty Internet của Hoa Kỳ như Google và Facebook muốn làm kinh doanh ở trong nước nhưng lại tỏ ra rất thận trọng với môi trường pháp lý tại đây. Blog của ông Đào hiện đang sử dụng giao diện Blogger thuộc Google" - đó là một sự cảnh báo đằng sau những vụ bắt các Blogger. Chắc hẳn những người làm công tác thu hút đầu tư (mà nghe đâu hình như cơ quan đó là Văn phòng Thương mại Việt Nam - trực thuộc Bộ Công Thương) sẽ làm rùm beng lên thôi. Trong số những người từng sử dụng Internet đều biết được sự kiện Internet có mặt tại Việt Nam đã tạo ra những đổi thay thế nào đối với diện mạo Việt Nam vừa tiến hành đổi mới toàn diện. Và nếu bây giờ có mọt thời cơ, một điều kiện như vậy thì biết đâu Việt Nam sẽ "hóa rồng" cũng nên.


          Trong cái địa hạt hoạt động của hai Công ty truyền thông lớn của thế giới là Google và Facebook thì việc truyền bá, phổ biến những quan điểm mới, thậm chí là trái chiều là tất yếu nhưng chúng ta cũng không nên vội hiểu nhầm là với việc những Blogger, những người đã từng sử dụng giao diện hoặc một giao thức của hai công ty này bị bắt thì hai công ty này không dám mở rộng thị trường tới Việt Nam. Với một thì trường tiềm năng với gần 90 triệu người thì đó là mơ ước của bất cứ doanh nghiệp nào khi hướng đến sự đầu tư. Hai công ty Google và Facebook không giống như chúng ta nghĩ. Để có được ngày hôm nay và phát triển tại được rất nhiều thị trường tiềm năng khác thì tiêu chí kinh doanh của họ luôn lấy vấn đề lợi nhuận làm trung tâm, hạn chế và ít quan tâm tới các vấn đề chính trị. Họ chỉ chú trọng làm chức năng truyền thông và cung cấp những dịch vụ mạng viễn thông cho những cộng đồng mạng nhất định.

          Việc các cơ quan chức năng Việt Nam tiến hành bắt và phạt tù các Blogger vì những hành vi lợi dung quyền tự do, dân chủ thực hiện những hành vi chống lại chế độ và lợi dung hình thức Blog để tuyên truyền và kêu gọi lật đổ chế độ có chăng chỉ củng cố và khẳng định đường hướng hoạt động hợp lý của hai công ty hoạt động trong lĩnh vực này./.



Chủ Nhật, 23 tháng 6, 2013


Phạm Chiến




          Trong vở kịch mà Vũ là diễn viên chính này, Nguyễn Đình Dặm là một diễn viên phụ bất đắc chí bởi anh diễn mà không hiểu nổi kịch bản viết gì? Khi vở kịch “Tuyệt thực” kết thúc cũng là cái lúc anh nhận ra mình bị những tay diễn viên sừng sỏi trong nghề lợi dụng.
****

   Nguyễn Đình Dặm– cái tên của một phạm nhân chắc hẳn sẽ không ai biết đến nếu anh ta không ở cùng buồng giam với Vũ. Vũ đã cho anh ta cái danh tiếng của một kẻ đã bao năm sống lặng lẽ, âm thầm trong bốn bức tường hưu quạnh ở trại giam số 5 đóng chân trên đất Thanh Hóa. Về lai lịch thì đến nay không ai biết Dặm phạm về tội gì, hình phạt giành cho hắn là bao nhiêu năm chỉ biết Dặm là người xuất hiện trong cái gọi là “Thư cảm ơn của Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ”. Trong thư, Dặm là nhân chứng để chứng thực hành động tuyệt thực của Vũ, Dặm nói: "Tôi lấy tính mạng của vợ tôi, của các con tôi và của các cháu tôi ra thề rằng anh Cù Huy Hà Vũ đã không ăn bất cứ miếng nào, không dùng bất kỳ chất dinh dưỡng, chất đạm và thuốc bổ nào ngoài thuốc điều trị bệnh tim và cao huyết áp trong cuộc tuyệt thực hiện nay của anh Cù Huy Hà Vũ. Ngoài ra, nếu tôi nói dối, tôi sẵn sàng chấp nhận bản án 7 năm tù mà tôi đang chấp hành tăng gấp đôi". Ai cũng biết rằng, Cù Huy Hà Vũ là một người hiểu luật, mà nếu Vũ có mù mờ về điều này thì đã có ả vợ của hắn – Nguyễn Thị Dương Hà cho nên không có gì là lạ nếu Vũ sắp đặt một cách công phu cho một người nói về mình với những câu chữ đã được phím trước. Vì như thế sẽ khách quan hơn, dễ bịp người khác hơn.



           Trong cái khung trời nhỏ hẹp trong cái buồng giam tại trại giam số 5 ấy, những thân phận bèo bọt, những cuộc đời chỉ biết nương tựa vào nhau để sống và chờ cái ngày đoàn tụ cùng gia đình. Việc Dặm đồng ý giúp Vũ với vai trò của một người chứng minh Vũ đã tuyệt thực cũng là một chuyện rất bình thường vì hơn hết Dặm cũng là một con người với tình thương yêu đồng loại; Dặm giúp vì nghĩ đơn giản rằng, nếu làm vậy biết đâu người anh giúp cũng sẽ được ra tù sớm và như vậy hạnh phúc của cả hai người có trọn vẹn hơn không? Anh ta đã làm theo lương tri mách bảo mà không chút nghi ngờ dã tâm đen tối của con người như Vũ. Vũ đã lợi dụng chính sự nhẹ dạ cả tin của một con người đã trở về sống với đầy đủ hai tiếng con người. Vũ không rơi vào hoàn cảnh như anh, không muốn được ra tù sớm để trở về gia đình bởi Vũ đâu còn gia đình đúng nghĩa mà về. Cái gia đình ấy đã bị Vũ làm cho tan nát và lí tán từ lâu rồi. Cái mà Vũ cần và sợ rằng, nếu mình không làm vậy thì những người bên ngoài sẽ quên Vũ mất. Vũ sợ sự lãng quên từ bên ngoài nên thôi thúc mình phải làm một cái gì đó đánh dấu mình vẫn tồn tại và nhất là nhiệt huyết, tinh thần “đấu tranh” vẫn con nguyên. Vũ cần những tiếng nói động viên như ngày nào như hồi mới vào trại. Dặm đã không hiểu được Vũ như khoảng cách chính anh và Vũ. Anh có gia đình, có người thương, người nhớ và có mong ước ngày trở về đoàn tụ, sum vậy và hơn hết anh không có được cái lí tưởng cao đẹp như Vũ khi biết sống và đấu tranh vì “thắng lợi của Công lý”. Cái khoảng cách vô hình đó biến Vũ và Dặm là hai kẻ “đồng sàng dị mộng” theo cả hai nghĩa.

           Trong vở kịch mà Vũ là diễn viên chính này, Nguyễn Đình Dặm là một diễn viên phụ bất đắc chí bởi anh diễn mà không hiểu nổi kịch bản viết gì? Khi vở kịch “Tuyệt thực” kết thúc cũng là cái lúc anh nhận ra mình bị những tay diễn viên sừng sỏi trong nghề lợi dụng./.




              Danh nhân Nguyễn Trường Tộ - một người Thiên chúa giáo gốc Vinh là cái tên gắn với sự suy vong của chế độ phong kiến và những giá trị văn minh, khoa học kỹ thuật từ phương Tây bắt đầu du nhập vào Việt Nam cùng với cuộc xâm lăng của chủ nghĩa thực dân. Ở đó, ông là một kẻ thức thời và biểu tượng sống cho một nhân cách luôn cố gắng "sống tốt đời đẹp đạo" và "sống phúc âm trong lòng dân tộc".







             Việc thế hệ hôm nay nhắc đên Nguyễn Trường Tộ dù với tư cách là một người con ưu tú của đạo Thiên chúa giáo hay với cương vị của một danh sĩ, kiến trúc sư và là nhà cải cách xã hội đều phần nào thể hiện tấm lòng tri ân và biết ơn với những đóng góp của ông trong quá khứ (dù chưa thực sự trọn vẹn lắm) và để một lần nhớ về những tư tưởng vượt qua khuôn khổ "đêm trường trung cổ" để hòa nhập cùng bước tiến của xã hội.

             Ở đó, danh nhân Nguyễn Trường Tộ mãi là một biểu tượng lớn cho sự đổi thay, chấp nhận đổi thay để đi lên. Trong đó, khát vọng canh tân, khát vọng đổi thay những thực tại không còn phù hợp với cuộc sống là điểm nhấn, là tinh thần chủ đạo trong tư tưởng và tầm nhìn của ông.

             Nguyễn Trường Tộ là một công dân Việt Nam và cũng là một người mang trên mình sứ mệnh của một con người sống phụng sự và thờ Thiên chúa. Mỗi hành động của ông luôn hướng đến làm trọn vẹn những sứ mệnh mà ông tự nguyện hiến dâng và theo đuổi. Và trong từng công việc của mình ông muốn hoàn thành tốt trên cả hai cương vị. Việc ông tấu trình lên vua Tự Đức lúc bấy giờ về những tiến bộ khoa học kỹ thuật mà các nước Tây phương đạt được cũng nhằm mục đích thay đổi những cố tật khó thay đổi của chính ông Vua của chế độ Phong kiến này và gián tiếp đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho những công dân đất Việt, trong đó có những người theo đạo Thiên chúa như ông. Với hành động can đảm mà chính ông cũng phần nào hình dung ra được những hậu quả tất yếu nếu Vua cho là nhảm nhí, hoang đường. Kết quả thì ai từng đọc những dòng tiểu sử về ông đều biết. Cái kết cục mà một con người luôn biết sống và phấn đấu vì sự tiến bộ của nhân loại và đất nước chắc chắn sẽ khiến cho chính ông và những người tâm huyết buồn. Cái mà ông có được lớn nhất đó chính là khởi sự, bởi ông không đắc chí nhưng ông đã khơi dậy trong ý thức con dân đất Việt những khát vọng canh tân, đổi mới.

             Nhớ về ông, thế hệ hôm nay đã tổ chức không biết bao nhiêu hội thảo khoa học, các cuộc tòa đàm chuyên đề để đánh giá hết cái tầm và những giá trị mang tính bền vững trong tư tưởng của Ông. Việc tổ chức Hội thảo về danh nhân Nguyễn Trường Tộ để làm rõ hơn những tư tưởng mang tính nhân văn, định hướng và cũng là một dịp "quảng bá" những công lao của ông là một việc làm cần thiết nhưng chúng ta cũng không nên vì vậy mà đi lệch hướng trong công tác tuyên truyền và định hướng dư luận. Không thể lấy những nội dung cốt lõi trong tư tưởng của ông để biện minh và cổ súy cho những hành động dân chủ mang tính giả hiệu hoặc lấy hình tượng của ông để dấy lên, kêu gọi một bộ phận người, nhất là những người theo đạo Thiên chúa giáo có các hoạt động đối lập với những chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Tiếp thu tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ cũng cần nhận thức được tính lịch sử và những giá trị mang tính giai đoạn. Chúng ta không thể đánh đồng giai đoạn trước đây với thời đại hiện nay bởi vẫn là cái tư tưởng ấy nhưng hiện nay lại có thể được nhìn nhận với những khía cạnh khác hơn. Những hạt nhân cơ bản trong tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ về canh tân, khát vọng đổi mới không đồng nghĩa với việc kêu gọi, thúc đẩy những xu hướng mang màu sắc Phương Tây, chính trị phản động. Việc rạch ròi trong việc nhận thức và vận dụng những giá trị hiện sinh trong tư tưởng của ông sẽ giúp cho thế hệ hiện nay biết cái gì cần tiếp thu, không nên tiếp thu.

             Chính điều này sẽ khiến cho ông không phải than phiền bất đắc như khi vĩnh biệt cõi đời này với sự nuối tiếc:

"Một lỡ bước đi, muôn thuở hận

Ngoảnh đầu nhìn lại đã trăm năm"./.

Phạm Hải An (Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả)
(Đăng trên http://tuoitrevietnam2012.blogspot.com/)

Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013





Phạm Chiến

           Dường như trong các nghề thì nghề kiếm cơm bằng ngòi bút và cũng chỉ với ngòi bút là cái nghề mang nhiều nợ đời nhất. Mỗi điều họ viết ra dù là chủ để, là cái gì đi nữa thì cũng chính là những thứ xuất phát từ bản thân mình. Một nhà báo viết về đề tài Công an không thể viết hay nếu họ chỉ ngồi một mình ở nhà để nghĩ và vẽ ra những câu chuyện báo chí mới. Họ phải lăn lộn lên tận những nơi khó khăn, những nơi hiểm nguy để tìm cho mình những tình tiết mới về những khó khăn của những chiến sỹ Công an trên mặt trận phòng, chống tội phạm ma túy, những chiến công trên trận tuyến thầm lặng giữ gìn bình yên cho cuộc sống hôm nay; những câu chuyện chưa hề được nói, được viết đã được chuyển tải trên những bài báo in, những thước phim tư liệu chính là những những sản phẩm xứng đáng cho sự cống hiến và nhiệt thành trong công tác, những thứ mà dù cho họ có là một thiên tài về trí tưởng tượng cũng không thể nghĩ ra được. Chính sự lăn lộn, sống trải mình với thực tế đã mang lại cho họ không chỉ là những điều mới trong chủ đề họ đang viết mà những kinh nghiệm sống, chất nhân văn trong con người cũng qua đây mà hình thành. Qua những chuyến công tác dài ngày trên những vùng biên cương xa xôi của Tổ Quốc, những cây viết, những phóng viên đã cho mình những trải nghiệm, những phút giây yêu Tổ quốc bao la, hùng vĩ mà nếu ở một góc phố nào đó nơi thủ đô thì họ không bao giờ có được.




           Và cái được lớn nhất từ những chuyến đi này là sự nhìn nhận khách quan chân thực về những điều mắt thấy, tai nghe từ chính cuộc sống này. Không ai trong chúng ta có thể tự hào rằng, mình có thể thấu đạt mọi chuyện chỉ bằng cách tư duy trong những phòng lạnh, điều hòa và những cơ sở vật chất tiện nghi sang trọng bởi nơi đây có chăng họ chỉ nhìn cuộc sống bằng màu hồng, bằng lăng kính của một người có cuộc sống đủ đầy, viên mãn về vật chất. Có chăng, họ chỉ thấy những nét khuất của cuộc sống qua những tiếng rao đêm, cuộc sống từ những khu nhà ổ chuột nơi phố thị. Mà chắc gì họ đã một lần qua nơi đó. Ấy vậy mà, họ sẽ có được tất thảy những điều đó với những chuyến đi. Trong quá khứ, chúng ta từng biết tới một điển hình cho “chủ nghĩa xê dịch” và sự dấn thân trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật – nhà văn Nguyễn Tuân. Nếu một ai đó từng lên vùng Sơn La, Hòa Bình – nơi mà con Sông Đà vừa hung dữ, vừa dịu hiền (như cách nói của Nguyễn Tuân) thì mới biết được để có được những dòng văn dầy chất thơ khi miêu tả về dòng sông Đà hùng vỹ, hung tợn này Nguyễn Tuân đã “liều” thế nào? Sự dấn thân không ngừng vào chính những nơi ngọn nguồn của hơi thở cuộc sống đã cho Nguyễn Tuân biết được Sông Đà không những vĩ đại mà còn trải dài, còn đẹp như mái tóc của người thiếu nữ buông xuống. Tất cả chính là sự đền bù cho những cố gắng, những sự “quả cảm” trong hoạt động Nghệ thuật đích thực. Và đúng như những gì mà quy luật cuộc sống, những tìm tòi cống hiến của chính những người như Ông đã được những công chúng yêu nghệ thuật và những cơ quan thẩm định nghệ thuật đánh giá cao. Nhắc đến “Người lái đò Sông Đà”, người ta nhắc ngay đến nhà văn Nguyễn Tuân và còn rất lâu nữa người ta mới có thể vượt được Nguyễn Tuân trong miêu tả về Sông Đà hay như nhiều nhà phê bình văn học từng phát biểu: “Nguyễn Tuân đã đóng đinh với hình tượng sông Đà”. Và chính tác phẩm này cũng góp công không nhỏ để nhà nước trao tặng ông Giải thưởng văn học nghệ thuật Hồ Chí Minh cho những cống hiến xuất sắc và tiêu biểu trong lĩnh vực văn học nghệ thuật.

           Để lí giải cho những bước đi xuống trong nền văn học nghệ thuật đương đại, rất nhiều nhà phê bình đã thẳng thắn nhận định là hiện tại đang thiếu những cây viết dám về với thực tế, dám trải lòng với thực tế. Họ chỉ biết ngắm nhìn cuộc sống của mình qua những lắng kính cá nhân mà quên đi rằng chính họ không thể thu cho mình hết được những gì đã, đang và sẽ xảy ra từ cuộc sống. Họ ngại đi, ngại khó, ngại khổ và dẫn đến họ ngại luôn những danh tiếng, những bước tiến trong nghề nghiệp. Có người trong số họ đã an phận đã làm được trong quá khứ và tạm chấp nhận nó. Thi thoảng có một số tác phẩm cũng có được những hiệu ứng từ chính xã hội nhưng cũng nhanh chóng rơi vào quên lãng cũng chỉ vì những cách viết xa rời hơi thở cuộc sống, thoát ly khỏi cuộc sống. Trước những bước thụt lùi của nền văn học nước nhà nhiều cây bút cũng trăn trở để tìm cho mình những lối thoát thực sự nhưng vài ba trại sáng tác, những cuộc “vi hành” do chính những cơ quan báo chí hoặc một đơn vị chủ quan quản lý lĩnh vực này không thể khỏa lấp hết được những khoảng lặng trống vắng do chính họ để lại. Nên chăng, mỗi cây bút, mỗi nhà văn phải tự tìm cho mình những lối đi riêng, không trông chờ từ chính những động thái từ phía nhà nước vì hơn bất cứ ngành nghề nào lao động nghệ thuật là quá trình tự thân của những con người đã có trong mình một phần tư chất bẩm sinh.

           Điều mà ai trong chúng ta vấn nhận thấy được, người cầm bút hôm nay vẫn giữ cho mình những trách nhiệm, họ không chỉ viết về cuộc sống dưới lăng kinh của mình, họ còn phải gánh trên mình những trọng trách từ chính những người mang trên mình cương vị định hướng và phản biện xã hội. Nhiều nhà văn, nhà báo hiện nay, bên cạnh thực hiện những công tác mang tính chuyên môn thì họ còn tham gia vào những diễn đàn, tự lập cho mình những trang Blog để nói lên những tiếng nói của mình. Có thể liệt kê ra hàng loạt những nhà văn như Nguyễn Quang Lập, Trần Mạnh Hảo, Nguyên Ngọc…Nhưng không phải ai trong số họ cũng hoàn thành những trọng trách của mình theo đúng nghĩa. Một số trọng họ đã biến mình thành những kẻ ngoại đạo, những “hình nhân” trên văn đàn.

           Trong quá khứ những cây viết này đã có phần định hình tên tuổi của mình trên văn đàn và trong lòng công chúng yêu văn học. Nhiều người trong số họ đã thành danh và được nhà nước tặng thưởng những giải thưởng văn học, nghệ thuật cao quý. Trở về cuộc sống sau chiến tranh, những cây viết này vẫn giữ được sức viết của mình và có những đóng góp lớn để gây dựng nên nền văn học hiện đại….Họ lao vào viết về những vấn đề mà bản thân nó mang tính phản biện rất cao mà quên đi rằng, văn học thời kỳ nào cũng cần được định hướng. Mất định hướng thì chính họ sẽ rơi vào tâm thế mất cân bằng và đôi lúc bản thân họ đã chấp nhận thoát ly từ những vấn đề mà họ cho là gò bó, khuôn xáo đó. Họ đòi hỏi nghệ thuật phải được phát triển một cách độc lập, không phục vụ những nhiệm vụ chính trị. Họ cũng tự cho mình cái quyền được định hướng dư luận bằng chính những sản phẩm không định hướng của mình.

           Không chỉ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, đã có lúc diến ra những hoạt động mà ta quen gọi là những hành động cởi trói những lề thói cũ, không thích hợp để phát triển, đi lên nhưng không phải cởi trói đổi mới đó bằng mọi cách. Tính định hướng cần được giữ lại như một nguyên tắc để cân bằng giữa xu hướng phát triển và gìn giữ những giá trị mang tính nguyên tắc và bất định. Sau khi đất nước bước ra từ hai cuộc kháng chiến, không ít văn nghệ sỹ đã có được hơn những không gian để hoạt động và cống hiến cho nghệ thuật. Họ được nhà nước đầu tư tiền của cho những tác phẩm nghệ thuật mà chúng ta vẫn quen gọi là chính sách khoán. Đề tài viết không chỉ còn bó buộc trong những vấn đề phục vụ cuộc chiến tranh chống Mỹ và tay sai, khí thể hừng hực thi đua xây dựng XHCN đã trở thành những điểm đến của văn học nghệ thuật. Và lúc ấy ai nắm bắt được, ai hòa mình vào những bước chuyển mình cuộc sống đương đại thì người đó có cho mình tác phẩm hay. Nhưng cũng có không ít những người trong số họ đã vượt quá những trách nhiệm của những người đã từng cầm bút, đã từng là nhà văn - chiến sỹ. Họ đã mạnh dạn và thẳng thừng đòi hỏi nhà nước phải trả xứng đáng những cống hiến của họ trong quá khứ trong khi điều kiện nước nhà sau chiến tranh không thể giải quyết ngay lập tức. Từ vị thế của một kẻ đi đòi bất đắc chí họ trở thành những người có những định kiến với chế độ, Nhà nước. Và đúng như quy luật chủ đạo chi phối hoạt động văn học nghệ thuật, chính những cái bất chí đó đã khiến họ quay ngọn bút với chế độ. Nếu trước đây họ yêu chế độ, ngợi ca chế độ bao nhiêu thì nay họ lại càng hằn học, viết nên những tác phẩm quen gọi là “chưởi” chế độ không thương tiếc. Họ đã tự mình tạo nên vị thế của một lớp người mang trong mình tinh thần “tự diễn biến”.

           Trong xu thế mà nền văn học luôn và sẵn sàng phục vụ đời sống, phục vụ những nhiệm vụ chính trị của đất nước, những tác phẩm trái chiều ấy như những “vị đắng” thực sự trong buổi đầu tái thiết đất nước. Những cơ quan chủ quản làm công tác thẩm định đã ra tay thu hồi như một lẽ tất yếu. Và với “máu” của lớp người nghệ sỹ khi chính những đứa con tinh thần bị “chèn ép” họ đã phát điên, đổ tất cả mọi tội trạng lên chính chế độ mà họ đang sống. Họ không hiểu được rằng, mọi hoạt động dù trên lĩnh vực nào cũng đều phải tuân thủ những luật chơi, vượt qua hoặc cố tình vượt qua những quy định ấy thì chính họ phải chấp nhận những tổn thất. Đó là lẽ công bằng. Vì một lí do nào đó những bất đắc chí, những bất mãn nối tiếp nhau hình thành nên một bộ phận người từng là văn nghệ sỹ có đóng góp cho đất nước sẵn sàng “trở cờ” và họ lại dùng chính những gì họ đang sở hữu để thể hiện tinh thần phản kháng của mình.

           Cũng phải nhận thức một điều tất yếu là những thành công họ có được trong quá khứ đáng được trân trọng và cần được tri ân một cách xứng đáng nhưng cũng không phải vì chưa được tri ân, tôn vinh mà đã biểu hiện những thái độ đối nghịch. Những người nghệ sỹ lớn luôn biết chờ đợi và cố gắng chờ đợi dù chỉ có 1% niềm tin. Họ vội vàng như thế sắp có một biến chuyển gì lớn lao lắm. Cái mà họ cần hiểu thì chính họ không hiểu và không bao giờ hiểu. Sự bàng quang, vô trách nhiệm dù chỉ trong một phút giây nào đó đã biến họ thành những phần tử mà trên một phương diện nào đó họ thực sự đáng trách. Những người có trách nhiệm hôm nay không thể quên được những cống hiến của họ, vẫn đối đãi với họ như những người đã từng có những năm tháng cống hiến cho dân tộc nhưng thay vì tiếp nhận những nghĩa cử, chính sách đó họ lại nhân danh những thứ cao quý mà họ chưa một lần nghĩ tới để từ chối. Họ hành động nếu xét trên một phương diện nào đó thì rất đỗi cao quý và nếu họ dừng lại ở đó thì chắc hình tượng, những giá trị lớn lao đã được họ xác lập trong quá khứ vẫn còn bền vững và sống lâu dài nếu họ không lấy cái cớ không nhận đó để tự chọn cho mình một lối đi riêng. Họ quên rằng, dân tộc này đang cần họ trên mặt trận văn học nghệ thuật. Sự thụt lùi nhất định và tạm thời của nền văn học hôm nay sẽ khiến không ít người tiếc rẻ những tài năng một thời như thế nhưng cái mà nền văn học giai đoạn nào, thời khắc nào cũng phải đề cao chính là lương tâm, trách nhiệm, tinh thần dám nhìn thẳng vào thực tế khách quan là cái trường tồn trước những biến chuyển của thời cuộc thì họ lại thiếu. Những con người này họ có tài, có khả năng nhưng cái mà cần đi cùng họ trong toàn bộ hành trình đến với nghệ thuật, cống hiến cho nghệ thuật thì chính họ lại không có. Đó có chăng cũng là căn nguyên hình thành nên một thế hệ văn nghệ sỹ đứng ngoài và dửng dưng với thời cuộc. Nếu có thì hành động của họ rất hiếm khi có tinh thần xây dựng.

           Cuối cùng tôi cũng nói thêm rằng, nền văn học trong giai đoạn hiện nay có những bước thoái trào nhất định ấy cũng xuất phát từ những cây viết dù chưa thành danh nhưng đã vội tạo nên cho mình dáng đứng của những cây đại thụ. Họ tự cho mình cái quyền được viết về những vấn đề nóng bỏng thời cuộc dù những kiến thức, những hiểu biết của họ cũng là từ những câu chuyện trà đá vỉa hè và tự cho mình cái quyền thúc đẩy phát triển những giá trị cao quý mà chính họ cũng chỉ mù mờ hoặc chưa biết được liệu nó ra đời thì làm nên cái gì. Thế hệ những như nhà văn Thùy Linh, Phạm Viết Đào là những đại diện xuất sắc cho một bộ phận người này. Dù rằng, phản biện và những nhu cầu nói lên tâm tư là cái quyền của bất kỳ ai nhưng phản biện bên cạnh những ý nghĩa mang tính cá nhân thì nó còn đảm nhiệm chức năng phản biện xã hội cho nên nếu một mình họ nhận thức sai vấn đề thì thế giới vẫn bình yên nhưng khi họ kéo theo một số đông nhận thức sai là vấn đề khác…

           Từ những thực trạng và hệ lụy trên nên chăng trước khi viết, trước khi cầm bút thực hiện những chức năng được xã hội giao phó, những nhà văn, những cây viết hôm nay cũng hãy dừng lại chỉ một thời gian nhỏ nhỏ lắng lòng, dành cho mình khoảng thời gian dù ngắn thôi để biết cuộc sống này đang vận hành ra sao... Tôi tin rằng, nếu làm được điều đó thì mỗi câu họ viết ra đều mang được hơi thở cuộc sống , phục vụ chính cuộc sống hôm nay và họ sẽ không còn tồn tại như những thực thể ngoài luồng./.



An Chiến




           Việc phát hiện ra những lùm xùm thể hiên sự yếu kém trong quản lý, điều hành của các Tổng công ty, Tập đoàn nhà nước tại hai đơn vị từng được kỳ vọng là đầu tàu dẫn con thuyền Việt Nam ra biển lớn - VINASSHIN, VINALINE đã gióng lên những báo động sự yếu kém trong thành phần kinh tế nhà nước. Những con số thống kê từ những cơ quan nhà nước đã nói lên những hiện trạng đáng buồn từ chính cách làm ăn, vận hành của các đơn vị này. Đây chính là những hố sâu ngăn cách, làm giảm lòng tin của chính quần chúng nhân dân – những người lao động để đóng những đồng thuế nuôi sống chính hai tập đoàn trong thời gian qua vào Đảng, nhà nước và khi mọi chuyện được phanh phui thì chính họ lại gánh trên mình những khỏa nợ không tên. Sự yếu kém của VINASSHIN, VINALINE trong quản lý và điều hành cũng là bài học xương máu cho Chính phủ và các bộ, ban ngành liên quan khi giao cho những cá nhân, tập thể không biết và không thể chịu trách nhiệm. Và cũng chính tư duy làm ăn trông chờ vào nhà nước, đã có nhà nước lo thay nếu xảy ra thua lỗ hoặc phá sản đã thủ tiêu những động lực phát triển.




           VINASHIN, VINALINE trở thành những dấu hiệu chứng tỏ xu hướng đi xuống của thành phần kinh tế nhà nước nhưng đó chỉ là một hiện tượng, là hậu quả của một cách làm sai, không phù hợp với nền kinh tế của chúng ta hiện nay. Nhiều người dân đang mong chờ Chính phủ - cơ quan chủ quản và chịu trách nhiệm chính trong hoạt động của hai cơ quan này có động thái thực sự. Và câu hỏi đặt ra là nên xử lý, giải quyết thế nào đối với đề Vinashin, Vinaline? Nhiều chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đã đặt ra một giả thuyết là cho hai Tập đoàn này phá sản và để cho nó chịu những hậu quả cũng như sự điều phối chính cơ quan Nhà nước? Ý kiến này xem ra là có lí khi phá sản thì chính những Tổng công ty, tập đoàn đang đứng trong hoàn cảnh gần như chắc chắn phải tiến hành phá sản ấy không phải hoàn toàn lo về những khoản nợ, những yếu tố mà lẽ ra chính họ phải chịu. Nhưng việc làm này chỉ là duy nhất và tất yếu đối với những Tổng công ty, Tập đoàn tư nhân hoặc một phần trong đó là vốn của Nhà nước, còn VINASSHIN, VINALINE lại khác. Hai tập đoàn này là những đơn vị kinh tế quốc doanh, 100% vốn nhà nước và vì thế vai trò của nhà nước trong vấn đề tái cơ cấu hay để cho phá sản cũng đều như nhau. Nếu để phá sản thì chính nhà nước sẽ ra tay mua lại chính nguồn tài sản của chính mình và khi đó căn nguyên của vấn đề không những không được giải quyết mà còn chờ đợi một bước đi tiếp theo trong khi người dân đang kỳ vọng vào những động thái mới lại chưa thể có ngay. Hay nói cách khác, trong việc này, nhà nước đang một lúc sắm cho mình hai vai diễn: “Vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Trong khi đó tiến hành vấn đề tái cơ cấu thì sẽ không phải tiến hành những quy trình của công việc tổ chức xem xét và cho phá sản một chủ thể và nhà nước có thể bắt tay ngay vào việc vực dậy và đổi mới hoàn toàn trong cơ chế vận hành, cách thức hoạt động để có thể đứng vững và làm ăn có lợi trong tình hình mới hiện nay.

           Trong cách hành xử này, vấn đề không phải là làm cái gì có lợi cho hai tập đoàn này. Người dân, những người phải chịu trách nhiệm gián tiếp từ những khoản nợ do hai Tập đoàn này đem lại đang cần một câu trả lời vừa nhanh chóng, hợp lý từ chính những cá nhân, tổ chức có trách nhiệm. Họ đang muốn chính những hiện trạng đã và đang tồn tại cần có những câu trả lời thích hợp nhất. Không thể kéo dài những tồn đọng trong khi từng ngày, từng giờ trong khi người dân là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp. Vấn đề niềm tin trở thành vấn đề sống còn không chỉ trong công việc tái hoạt động của hai Tập đoàn này mà vấn đề sâu xa hơn khi nó đang là điển hình cho những cách thức và mô hình làm ăn không hiệu quả của thành phần kinh tế Nhà nước – một trong những nguyên tắc, định hướng cơ bản để Đảng, Nhà nước và nhân dân tiến tới mục tiêu xây dựng nước ta trở thành một nước XHCN. Vì vậy, việc làm trước mắt trong cách giải quyết và xử lý đối với hai tập đoàn này chính là lấy được niềm tin, sự kỳ vọng từ chính những người đã có sự đóng góp nhất định cho thành phần kinh tế Nhà nước này. Chỉ có sự ủng hộ của người dân thì hai Tập đoàn này mới có được cơ hội để vực dậy và hoàn thành những nhiệm vụ của mình trong xây dựng xã hội mới – Xã hội XHCN.

           Xét trên những khía cạnh như vậy, việc tái cơ cấu hai Tập đoàn này không những giải quyết được căn nguyên vấn đề mà còn tạo ra những tiền đề thuận lợi để phát triển nó trong tương lai nhằm phục vụ những mục tiêu phát triển mới. /.

Nguồn: vietnamngayve.blogspot.com


Thứ Sáu, 14 tháng 6, 2013






        Ai có lợi nhất trong cuộc bỏ phiểu tín nhiệm trong 47 chức danh lần này của Quốc hội? Có người bảo Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và người bất lợi nhất là đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Dĩ nhiên tiêu chí mà họ đưa ra hiển nhiên là những con số tín nhiệm. Và vô hình câu chuyện bỏ phiếu tín nhiệm được lái sang câu chuyện khác là cuộc cạnh tranh giữa Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng và ba vị trong "Tứ trụ triều đình" còn lại. Dường như dưới cách hiểu của một số người thì đây là một trong những bước đi nhằm cân bằng lại bàn cân giữa các thế lực trong nhà nước. Người ta cho rằng, đương kim Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chiến thắng thế trong cuộc bỏ phiếu để bầu các chức danh trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư tại Hội nghị Trung ương 7 (Khóa XI) mà người đứng đầu và lãnh đạo phe "Miền Nam" không ai khác ngoài ông Ba Dũng (tên gọi thân mật của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng). Và phe "miền Bắc" với những đại diện như đương kim Tổng Bí thư, Chủ tịch Quốc hội đã nghĩ ra câu chuyện bỏ phiếu tín nhiệm (Nơi mà Ông Hùng, Ông Trọng có được những ảnh hưởng nhất định) để vừa trả thù lại ông Dũng và cũng giành lại những gì họ đã mất qua lần bỏ phiếu lần trước. Như vậy câu chuyện đã có sự zic zắc từ một sáng kiến trong các hoạt động của Quốc hội mà như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nhận định là chưa từng có ở các nước phương Tây - (một nơi mà người ta vẫn tự hào là cái nôi dân chủ và đang đấu tranh đòi lại dân chủ cho những quốc gia thuộc thế giới thứ ba) thành một câu chuyện đấu đá nội bộ được dàn xếp công phu và kỹ lưỡng. Vậy ai là người được lợi và cái lợi đó là gì?

        Xin thưa rằng, trong cuộc bỏ phiếu này ai cũng là người có lợi và người được lợi lớn nhất là nhân dân bởi:

        Với những người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm lần này họ có thêm một kênh thông tin quan trọng tại nghị trường để họ đánh giá đúng hơn năng lực và uy tín của mình trước những vị đại biểu đại diện cho đông đảo nhân dân cả nước. Họ sẽ biết được nhân dân, những đại biểu - những người ảnh hưởng trực tiếp từ những quyết định, cách điều hành, quản lý, trực tiếp giám sát họ cần gì ở mình, mình còn thiếu sót ở điểm nào? tồn tại ở điểm nào? cần tiếp tục phát huy những điểm gì? Đối với những người làm chính trị nói riêng, những người làm trong các cơ quan nhà nước hay bất cứ ngành nghề gì cũng vậy được người khác thành tâm, trách nhiệm nói lên những khuyết điểm của mình thì không còn gì bằng. Dù thực tế có nhiều điều chướng tai, gai mắt với bản thân họ và đôi khi còn khó mà chấp nhận nhưng đó là tiền đề để chính họ nhận thức lại mình và tìm cho mình một hướng đi phù hợp để làm tốt hơn những trọng trách, niềm tin mà nhân dân và những vị đại biểu ngôi đây giao phó. Mỗi một lá phiếu mà những vị đại biểu tín nhiệm hay không tín nhiệm (Tín nhiệm thấp) đều chuyển tải những thông điệp lớn hướng tới những đổi thay nhất định.

        Còn đối với những người dân, những người mà bản thân tôi cho là người được hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc bỏ phiếu tín nhiệm lần này. Họ chính là những người từng ngày, từng giờ mong muốn cuộc sống của mình ngày càng đi lên, thoát khỏi những khó khăn trong cuộc sống và được sống hạnh phúc, ấm no. Qua kênh thông tin này, với những ước mong thường trực họ mong những vị được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có được những đổi thay phù hợp, ít nhất là trên phương diện kinh tế. Thông qua những vị đại biểu Quốc hội cầm trên tay những lá phiếu "Quyền lực", người dân muốn 47 vị được bỏ phiếu ở đây không chỉ nói mà còn làm, làm một cách thuyết phục. Mặt khác, chúng ta hiển nhiên thấy được một điều, bỏ phiếu tín nhiệm 47 chức danh trong Quốc hội và Chính phủ lần này chỉ là màn dạo đầu cho kỳ họp của Quốc hội. Tiếp sau hoạt động này, Quốc hội sẽ tiến hành những phiên chất vấn các chức danh trong Chính Phủ. Hoạt động mà cùng với kết quả bỏ phiếu tín nhiệm sẽ cho những kết quả mang tính tổng quan nhất, chính xác nhất về sự tín nhiệm của địa biểu Quốc hội giành cho những vị được chất vấn và bỏ phiếu tín nhiệm. Vì vậy, nếu ai đó có dã tâm muốn liên tưởng từ hoạt động này thành câu chuyện mang tính đấu đá nội bộ thì cũng nên suy nghĩ cẩn thận, phù hợp với quy luật khách quan để  công chúng không phát hiện ra đó là sự chế biến thông tin phục vụ mục đích làm sai lệch, biến tướng hoạt động của những cơ quan nhà nước.

        Nói ra việc ai có lợi bây giờ có vẻ hơi sớm, cái mà chúng ta cần và đòi hỏi là sự đổi thay thực sự để đưa diện mạo của đất nước đi lên. Và một con người yêu nước và trăn trở với thế đứng của nước nhà đều có những mong muốn như vậy. Chỉ có những con người không có được ước muốn đó, chỉ mong đất nước ngày càng đi lùi mới là người không có lợi nhất trong các hoạt động như thế này.


Phạm Hải An




Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013






Đại biểu Dương Trung Quốc phát biểu bên lề Buổi bỏ phiếu tín nhiệm 47 chức danh chủ chốt Quốc hội và Chính Phủ

            Sau khi tiến hành lấy phiếu tín nhiệm 47 chức danh chủ chốt của Quốc hội và Chính phủ kết thúc Quốc hội đã công bố những con số liên quan. Đó cũng là phút giây những người trong cuộc thể hiện sự hồi hộp chờ đợi đánh giá từ những vị đại biểu công tâm, những người chứng kiến thì tha hồ mà nhận xét, bình phẩm. Không ít người đã cho đây là một bước đi cần thiết, cần thường xuyên tiến hành và cũng không ngần ngại đưa ra cho mình những nhận định về buổi bỏ phiếu tín nhiệm lần này. Những cụm từ như "phản ánh đúng thực tế khách quan", "công bằng" và "tương đối chính xác với những gì đã đạt được, những gì còn thiếu sót, tồn tại của các chức danh được đưa ra lấy phiếu tín nhiệm" được các đại biểu nói nhiều bên lề buổi bỏ phiếu tín nhiệm lần này. Dù rằng có người còn bàn tán về những con số và thông qua những con số này để đánh giá những gì đã đạt được của những con người này, đưa ra những nhận định về tương lai của những con người này nhưng cái mà ai cũng nhận thức được những hiệu ứng mang tính tích cực từ hoạt động này. Quốc hội - cơ quan lập pháp cao nhất đã thể hiện sự quyết liệt cần thiết trong việc thúc đẩy tinh thần, ý thức trách nhiệm của những con người được nhân dân tin tưởng, giao phó những trọng trách quan trọng. Thông qua những hành động này, những vị đại biểu Quốc hội, những đại diện chính đáng, hợp pháp của nhân dân sẽ có được "cây gậy", "hành lang cơ chế" cần thiết để thay nhân dân giám sát, điều chỉnh và có những bổ khuyết cần thiết để nâng cao chất lượng chuyên môn của những cá nhân, cơ quan chuyên trách. Với cơ chế này những chức danh chủ chốt nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì họ sẽ đứng trước những nhận định, đánh giá và thậm chí là một tiêu chí ảnh hưởng đến tương lai chính trị của chính họ. Và như vậy, chính những người được bỏ phiếu tín nhiệm sẽ ý thức được những hệ lụy từ những việc làm của chính mình để làm tốt chức trách của mình, không phụ sự kỳ vọng của người dân.

           Cũng nói thêm, đây không phải lần đầu tiên Quốc hội nói đến việc bỏ phiếu tín nhiệm những chức danh Quốc hội. Trước đây thông qua những phiên chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội với các chức danh của Quốc hội (Chủ nhiệm các Ủy ban chuyên môn) và các thành viên Chính phủ. Chính thông qua hoạt động này, những đại biểu Quốc hội đã chuyển tải những vấn đề, nội dung bức xúc, được nhiều người quan tâm, những người có trách nhiệm sẽ trả lời và những đại biểu Quốc hội sẽ tiến hành đánh giá thông qua những câu hỏi nếu chưa hài lòng và có thêm những chất vấn mới. Có chăng lần này, Quốc hội đã thể hiện sự quyết liệt hơn, công khai, minh bạch hơn trong vấn đề này. Với những con số biết nói sẽ làm cho những người dân vì một lí do nào đó không có điều kiện theo dõi các phiên chất vấn có được những cái nhìn tổng quan nhất, đầy đủ nhất. Và đó cũng chính là một kênh thông tin quan trọng để người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân của mình - Bầu cử.

           Điểm nhấn lần này của việc lấy phiếu tín nhiệm chức danh chính là việc những con số phiếu tín nhiệm đã nói lên được những vấn đề bức xúc, dành được nhiều sự quan tâm của các đại biểu Quốc hội. Những vấn đề nổi cộm, gây ra nhiều bàn cãi như vấn đề điều chỉnh giá vàng của Ngân hàng nhà nước, chất lượng thi cử và đào tạo trong ngành Giáo dục, vấn đề điều hành, quản lý của Bộ Xây dựng liên quan dến những công trình thủy điện, những vấn đề liên quan đến ngành Giao thông vận tải và các vấn đề An sinh xã hội đã được những đại biểu mổ xẻ và đưa ra những lá phiếu công tâm nhất. Tuy nhiên cũng phải nói rõ rằng, việc Quốc hội đưa ra chủ trương và tiến hành lấy phiếu tín nhiệm đối với 47 chức danh không phải nhằm mục đích hạ bệ, làm giảm uy tín của một cá nhân, tổ chức nào. Càng không phải là một tiêu chí cứng để điều chỉnh và ảnh hưởng trực tiếp tới sinh mệnh chính trị của một cá nhân cụ thể nào. Có chăng đây là một kênh thông tin mang tính cảnh báo, báo động đối với những cá nhân được tin tưởng và trao trọng trách nhưng chỉ mới dừng lại ở việc thực hiện tròn vai hoặc thậm chí chưa hoàn thành trách nhiệm. Những lá phiếu ấy sẽ gián tiếp nói với những chủ nhân của chúng về mức độ tín nhiệm của các thành viên Quốc hội, người dân đối với những việc làm của mình và khơi dậy trách nhiệm, tinh thần cống hiến trong họ. Nhưng nếu những người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm không có động thái thay đổi và hành động quyết liệt thì những lần tín nhiệm tiếp theo những đại biểu Quốc hội có quyền thực hiện những chế tài mà Nghị quyết của Quốc hội về vấn đề này đã nêu rõ. Hay nói cách khác, chính hoạt động này vừa đảm bảo tính nhân đạo trong việc thực thi những quy định tại các phiên làm việc Quốc hội nhưng cũng thể hiện sự quyết liệt của Quốc hội Việt Nam trong chống căn bệnh hình thức, giả tạo trong các hoạt động của các cơ quan Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng. /.


Phạm Chiến




Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

        Nói đến ông Tương Lai, tức ông Nguyễn Phước Tương, một nhà nghiên cứu xã hội học - văn hóa, đã từng làm cố vấn cho hai đời thủ tướng, là ông Võ Văn Kiệt và ông Phan Văn Khải. Người ta cũng biết đến ông Tương Lai với chức danh Giáo sư tự phong, và sự trảo trở lật lọng.



Mới đây, trong bài bình luận đăng trên nhật báo The New York Times của Mỹ ngày 7/6, ông Tương Lai, đã lại cuồng ngôn phê phán chính quyền Việt Nam "đàn áp dân chúng trong các cuộc biểu tình yêu nước và nhu nhược trước sự xâm lấn của Trung Quốc ở Biển Đông", rằng "bi kịch lớn nhất của Việt Nam chính là ảo tưởng về một hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa thường được nhà nước viện cớ để dung chấp chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc, để trấn áp dân chủ, kiểm duyệt – bịt chặn thông tin, và khủng bố tinh thần của người dân". Ông Tương Lai cũng nói rằng "các bản án nặng nề dành cho hai sinh viên yêu nước Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên hồi tháng trước với các cáo buộc tội “nói xấu Trung Quốc” đã chạm tới tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc của người dân Việt Nam và phơi bày sự thông đồng mờ ám của chính quyền với những kẻ ngoại bang xâm lược".



        Thật đúng là lời lẽ của kẻ được làm vua, thua làm giặc, vừa láo xược vừa ảo vọng cuồng nô đến mức dưới cả ngu ngốc.


        Ông phê phán chính quyền Việt Nam "đàn áp dân chúng trong các cuộc biểu tình yêu nước và nhu nhược trước sự xâm lấn của Trung Quốc ở Biển Đông". Vậy nếu là ông, ông sẽ làm gì, hay chỉ là biểu tình, viếng nơi tưởng niệm các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ Biên giới phía Bắc, dán khẩu hiệu nơi đài Cảm tử quân, hò hét đòi trả tự do cho mấy kẻ theo lệnh bọn chống phá ở hải ngoại muốn đem súng đạn, đặt bom mìn lật đổ thể chế như nhóm Nguyễn Phương Uyên,…hay phải yêu nước kiểu Cù Huy Hà Vũ khăng khăng phải là “đồng minh quân sự với Hoa Kỳ” y kiểu Việt Nam Cộng hòa khi xưa mới là thể hiện không hèn nhát, nhu nhược với Tàu, còn không làm như thế là “bán nước”?



        Ông nói "để trấn áp dân chủ, kiểm duyệt – bịt chặn thông tin, và khủng bố tinh thần của người dân". Xin hỏi, ông có hiểu thế nào dân chủ không? ông có bị bịt chặt thông tin không? Nếu có tì làm sao bài của ông sang tận Mỹ và đăng thoải mái trên các diễn đàn của những kẻ cùng hội cùng thuyền như ông? Còn nữa, suốt cả 7 năm ông làm cố vấn cho Thủ tướng, tiếng nói của ông có ảnh hưởng và góp phần tạo nên cơ chế thông tin, hay nói cách khác, nhưng sản phẩm mà ông đang chửi bới chính là kết quả của quá trình ông làm cố vấn cho Thủ tướng. Vậy sao ông lại tự vả vảo miệng mình như thế chỉ vì mấy đô la của đám ba que sỏ lá? Chẳng lẽ ông bán rẻ lương tâm của người Việt đến thế?


        Hành động của ông giống như kẻ bất lương ngửa cổ phun nước bọt lên trời để rồi nước bọt lại rơi vào chính cái mặt của ông.


        Một điều nữa, để làm vui lòng đám vong nô phản quốc, ông đã không ngần ngại nói rằng: "bi kịch lớn nhất của Việt Nam chính là ảo tưởng về một hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa thường được nhà nước viện cớ để dung chấp chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc". Nói như thế, tức là tự ông lại bôi tro trát trấu vào mặt mình.


        Còn nhớ, trong bài viết ngày 6/5/2006 có tự đề: "Với Các Mác, cuộc sống là dòng chảy luôn vận động" được đăng trên VietBao.vn và Chungta.com, chính ông đã ca ngợi Mác và chủ nghĩa Mác là bất diệt, đúng đắn, và rằng trí tuệ của C.Mác đang chắp cánh cho chúng ta.


        Trong một bài viết khác ngày 21/1/2010 trên Tuần Việt Nam Net, bài viết có tựa đề "Đảng phải là Đảng của dân tộc", nội dung của bài viết ngợi ca chủ nghĩa Mác, tư tưởng Hồ Chí Minh, ca ngợi công lao của đảng cộng sản, trong đó có đoạn:

Vì thế, ở vào những thời điểm lịch sử của cách mạng, khi mà người cộng sản luôn đứng ở vị trí nguy hiểm nhất, hiên ngang đương đầu với tù đày, sống chết, thì bộ phận những người Việt Nam ưu tú nhất trong tất cả mọi tầng lớp nhân dân, mà người ta gọi là "bộ phận tinh hoa" của dân tộc, đều thấy rõ nghĩa vụ và vinh dự được đứng trong đội ngũ của những người cộng sản, được làm người đảng viên của Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, rèn luyện và lãnh đaọ.

        Với những lời lẽ ấy, không ai có thể tưởng tượng nổi một người như ông Tương Lai lại có thể bỗng chốc biến thành kẻ đào tẩu. Vâng, một kẻ đào tẩu! Ông đào tẩu để xách dép theo Bùi Hằng học đòi làm lãnh tụ.



        Những chuyện ông bàn về 2 tên tội phạm Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha, tôi đã có dịp trình bày trong entry "Tương Lai - Phương Uyên" ngay trên Blog này. Chỉ xin bàn về tính xàm ngôn của ông với câu: "Các bản án nặng nề dành cho hai sinh viên yêu nước Đinh Nguyên Kha và Nguyễn Phương Uyên hồi tháng trước với các cáo buộc tội “nói xấu Trung Quốc” đã chạm tới tinh thần yêu nước và chủ nghĩa dân tộc của người dân Việt Nam và phơi bày sự thông đồng mờ ám của chính quyền với những kẻ ngoại bang xâm lược". Trước hết, Tòa án chỉ có 1 bản án dành cho Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha chứ không hề có nhiều bản án như ông đã dùng chữ "Các" để mô tả. Thứ hai, Tòa án Long an đã dựa trên những chứng cứ về hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân của Uyên, Kha chứ không dựa vào việc "nói xấu Trung Quốc" như ông nói. Thứ ba, việc xét xử 2 tên tội phạm nguy hiểm đó đúng là động chạm đến lòng yêu nước và tinh thần dân tộc của người Viêt Nam, vì nó phù hợp với ý chí và nguyện vọng của người dân và nó được đại đa số người dân ủng hộ. Thứ tư, ông nói bản án đó phơi bày sự thông đồng mờ ám của chính quyền với những kẻ ngoại bang xâm lược là không có căn cứ và ông không chứng minh được điều đó. Ngay cả thời kì ông làm cố vấn cho các Thủ tướng,vào năm 2005, 2 tàu cá ngư dân ta ở vịnh Bắc Bộ đã bị cảnh sát biển Trung Quốc tấn công làm 9 người chết, 7 người bị thương, 8 người bị bắt giữ, thì hành động đáp trả của Việt Nam cũng chỉ dừng lại ở các biện pháp ngoại giao rồi xoay sang tranh chấp chủ quyền biển đảo bởi chúng ta chủ trương giải quyết vấn đề bằng Ngoại giao. Lúc đó, sao không thấy ông vác loa gọi biểu tình, hay vác súng bắn trả, hay là chính ông thông đồng với Trung quốc? Sao bây giờ ông lại to mồm kết tội chính quyền hèn yếu trước Trung Quốc?



        Em Đỏ thông qua phép so sánh để có nhận xét về Tương Lai như thế này, tôi cho là vô cùng xác đáng:


Tai Ương có thâm niên 7 năm tư vấn cho các Thủ tướng VN, từ 1999 đến tận 2006, vắt qua 2 đời Thủ Kiệt - Thủ Khải. So sánh thời kỳ đương kim tư vấn (A) và đương kim về vườn (B) của Tai Ương, thấy nôn ra một số thức tởm lợm:

  1. Ở (A), Nghị định 38/2005 về tụ tập nơi công cộng được ký. Ở (B), nó biến thành "bàn chân nổi giận của người biểu tình yêu nước bị đàn áp" .

  2. Ở (A), Luật Đất đai 2003 được ký. Ở (B) nó biến thành "bàn chân nông dân nổi giận vì bị sở hữu toàn dân đất đai".

  3. Ở (A), không cải cách chính thượng tầng nào lòi ra. Ở (B), nó biến thành "bàn chân nổi giận vì cải cách chính trị không song hành cùng cải cách kinh tế".




        Trích một ý kiến Vô Danh trên VOA khi nói về bài viết của Tương lai: "Có bao nhiêu bàn chân vong nô nổi giận trên đường phố VN vậy hả ông Quá khứ? Được thì ông làm cố vấn. Thua thì ông nổi đóa lên làm giặc. VN không chấp nhận thứ tiểu nhân này."



        Một chi tiết nhỏ, dẫu có là quyền chọn họ cho mình của một công dân, nhưng một người mà từ cả họ của bố đẻ ra mình thiết nghĩ cũng nên xem lại.

Cuối cùng, xin mượn lời của một Blogger nổi tiếng nói về ông Tương Lai: "Thế đủ rõ, "những bàn chân nổi giận" chỉ vì nó đã hết thời được theo voi ăn bã mía, nay bị đá đít giở về cái máng lợn".

Đúng là Tai Ương!

LâmTrực@ (Trelangblogspotcom.blogspot.com)


Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013


        Chủ nhật những người tham gia biểu tình sau khi đã được đã thể hiện cái mà họ gọi là “yêu nước” bằng cách nằm xuống đường, dù cho đường có nóng đến mấy.

        Hết việc đi biểu tình tuần hành cản trở giao thông cũng như sinh hoạt thường ngày của nhân dân, lại còn dẫm nát hàng cỏ, hàng hoa mà bao mồ hôi của cô, chú công nhân đổ xuống mới tạo nên được nét đẹp như vậy? Đã thế bạn bè quốc tế nhìn vào thì hình ảnh một Đất nước thân thiện, một Việt Nam luôn ở nụ cười ở đâu? Khi đó khách du lịch giảm, đầu tư giảm. Doanh thu sụt giảm, đời sống bấp bênh, thất nghiệp? Chẳng lẽ yêu nước bạn mong muốn một Đất nước tụt hậu như vậy uh?

        Tôi không nói xã xôi gì, tôi nói đơn giản như này:

        Bạn nghĩ sao? Khi chiều tan tầm, tan học, những dòng người hối hả đi về, người mong nhớ con, không muốn con mình phải chờ lâu. Những đứa con mong mẹ, những đứa trẻ khát sữa, thèm hơi. hay những người mẹ vội vã đi chợ chiều mong về nấu cho chồng con những bữa cơm ngon, canh ngọt, để cả nhà quay quần bên nhau sau cả ngày làm việc vất vả.Yêu thương, nụ cười giòn trẻ thơ, xưa đi bao mệt mỏi, mang đến hơi ấm hạnh phúc gia đình. Lúc bạn nằm ở đó bạn có nghĩ ở nhà bố, mẹ bạn đang mong ngóng bạn về trong bữa cơm gia đình không? Hoặc những bác tài xuôi ngược Bắc- Nam mang niềm vui và hàng hóa giao thương phát triển kinh tế nước nhà…. Đơn giản uh? Hay tôi chỉ lấy một ví dụ, một xe cấp cứu đi qua, bên trong xe là nỗi sợ hãi, sự cầu trời khấn phật của người thân mong xe đến viện kịp thời, để cứu người thân của mình thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Đến đây gặp cảnh những người “yêu nước” là đây. Xe không di được? Bạn sẽ nghĩ sao? “yêu nước” mà gây cản trở giao thông, làm cho bao người không kịp về với gia đình, làm cho người nguy kịch không kịp cấp cứu, làm cho sự phát triển của xã hội bị đình trệ.

        Vậy đến khi nào đất nước ta mới trở nên giàu, hiện đại, nhân dân ta mới được văn minh, có cuộc sống no ấm được. Đến hạnh phúc giản đơn là quay quần bên mâm cơm gia đình còn bị những bạn “yêu nước” cản trở như vậy? Liệu Việt Nam ta sẽ đi về đâu với những con người yêu nước như thế này.

Tôi xin thưa những bạn “yêu nước” các bạn nghĩ đó là đúng? Là chính nghĩa?
NHẦM Các bạn nghĩ sao khi đã vi phạm các tội cản trở trật tự an toàn giao thông đường bộ. Các bạn đừng nghĩ chúng tôi vô cớ đổ tội cho bạn nhé. Tội CTGTĐB là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách với lỗi vô ý, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng, hoặc gây thiệt hại nghiệm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác.

        Theo Điều 203 BLHS nước CHXHCN Việt Nam sửa đổi và bổ sung năm 2009 quy định tội CTGTĐB:

Người nào có một trong các hành vi sau đây CTGTĐB gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 30 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm: đào, khoan, xẻ trái phép các công trình giao thông đường bộ; đặt trái phép chướng ngại vật gây CTGTĐB; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá hủy biển báo hiệu, các thiết bị an toàn giao thông đường bộ; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách; lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường; lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ; vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ; hành vi khác gây CTGTĐB.

Bình nguyên

Nguồn: vietnamngayve.blogspot.com

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Nổi bật trong tuần

Bài đăng nổi bật

Đọc thêm