Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2013

- Alice -

Sau khi chế độ Xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ vào những năm cuối thập niên 80, 90 của thế kỷ XX, các thế lực thù địch chống chủ nghĩa xã hội coi đây là “thời cơ vàng” để đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, tấn công toàn diện vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm với tham vọng loại bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực ra khỏi đời sống chính trị thế giới.

Trong cuộc chiến mới, kẻ thù sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn, lực lượng, phương tiện mới tấn công trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm chuyển hóa chế độ chính trị các nước xã hội chủ nghĩa theo hướng tư bản chủ nghĩa, thực hiện phương châm “không đánh mà thắng”. Trong chiến lược toàn cầu đó, kẻ thù đặc biệt chú trọng tấn công vào trận địa tư tưởng, văn hóa hòng làm thay đổi nhận thức, tình cảm, phá hoại niềm tin, lý tưởng cách mạng, làm suy đồi đạo đức lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân với kỳ vọng biến “diễn biến hòa bình” thành “tự diễn biến”, kích động tư tưởng chống đối từ trong nội bộ, âm mưu thủ tiêu thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ cùng nhân nhân ta đã dày công gây dựng, giữ gìn. Chúng ra sức chống Hồ Chí Minh nghĩa là chống nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng và đánh vào giá trị tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc, hay nói như nhiều người là “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh. Làm sụp đổ thần tượng này, tức là làm mất giá trị văn hóa và làm cho Việt Nam đi theo một con đường khác. Đánh vào Hồ Chí Minh cũng tức là đánh vào sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Lâu nay, các thế lực chống phá chủ nghĩa xã hội, chống Việt Nam triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, tuyên truyền để gieo rắc các quan điểm, tư tưởng tư sản, phản động, xuyên tạc, bội đen lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Chúng cố tình rêu rao rằng, lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta ưa dùng bạo lực, say máu chiến tranh nên đã đưa cả dân tộc vào con đường “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tương tàn”… Bằng thủ đoạn thâm độc này, kẻ thù đã làm cho không ít người, nhất là thế hệ trẻ mơ hồ, hoài nghi, giảm sút niềm tin vào Đảng, Bác Hồ.

Mới đây, khi tôi đọc bài viết “10 tội ác lớn nhất của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam” trên danlambao mà không khỏi tức giận, tự hỏi kẻ viết bài đấy còn dám xưng hô mình là người Việt Nam không? Tại sao dám đặt điều vu khống, dám bôi nhọ hình ảnh Đảng Cộng sản, chủ tịch Hồ Chí Minh – người cha già của dân tộc… Bọn chúng từ sự thâm thù chủ nghĩa cộng sản, thâm thù cách mạng đã tìm mọi cách xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, đất nước còn nhiều khó khăn, những thành tựu đạt được của sự nghiệp đổi mới là rất to lớn và có ý nghĩa lịch sử, khẳng định lý tưởng cộng sản cao đẹp, sức sống bền vững của chủ nghĩa xã hội hiện thực. Tên tuổi, sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc Việt Nam suốt thế kỷ XX cho đến ngày nay và cả mai sau. Người đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, nêu tấm gương sáng ngời về đức hy sinh, tinh thần tận tụy, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị. Người đã hiến dâng tất cả chỉ quên mình. Khẳng định công lao, đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc và nhân loại, UNESCO đã tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới”.

Vậy mà, để phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, kẻ địch đã không từ bỏ một thủ đoạn tuyên truyền phản động nào. Chúng tuyên truyền xuyên tạc tư tưởng, thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Người, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm phủ nhận cơ cở lý luận của Đảng. Chúng rêu rao rằng tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng dân tộc không chịu ảnh hưởng gì của Chủ nghĩa Mác – Lênin có tính quốc tế. Đặc biệt chúng còn mở chiến dịch phản tuyên truyền vu khống “hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh” bằng những thủ đoạn hèn hạ nhất, chúng dựng chuyện đời tư để bôi nhọ Người, phát tán tài liệu, sách báo, tranh ảnh nói xấu, xuyên tạc về Người làm cho không ít người nhẹ dạ cả tin, hoài nghi về lãnh tụ kính yêu của mình, nhân dân phân tâm, giảm sút niền tin vào Đảng do chính Người sáng lập. Chúng còn ra sức xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, trắng trợn bôi nhọ các lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước ta.

Tất cả, vì mục tiêu chống đối chế độ Xã hội chủ nghĩa mà Đảng, nhân ta đang dày công gây dựng nên chúng nói xấu chế độ ta một cách điên cuồng, không tiếc lời lẽ tán dương các giá trị tư sản, bôi nhọ lịch sử dân tộc Việt Nam. Và tất nhiên, một trong những thủ đoạn nham hiểm nhất của chúng chính là hạ bệ tượng đài Hồ Chí Minh trong lòng người dân Việt Nam, từ đó xuyên tạc, bác bỏ thành quả cách mạng của Đảng, nhân dân ta đã đạt được, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc – cội nguồn sức mạnh của dân tộc ta.

Đặc biệt trong thời gian hiện nay khi mà cả dân tộc đang chung tay góp ý hoàn thiện bản Hiến pháp 1992 thì đây chính là cơ hội để thế lực chống phá thực hiện thủ đoạn thâm độc của chúng. Vậy nên, chúng ta những công dân Việt Nam hãy cảnh giác trước thủ đoạn lừa lọc của chúng./.

 

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

 ** Alice **

            Không phải đến bây giờ, mà ngay từ khi xác định chắc chắn không thể duy trì chế độ tay sai ở miền Nam Việt Nam; các thế lực thù địch đã chuyển mục tiêu đối đầu bằng vũ lực sang tiến hành những hoạt động chống phá ta như bao vây, cấm vận về kinh tế, cô lập về ngoại giao đến những hoạt động gián tiếp như gây kích động, bạo loạn trong nước cũng như tài trợ cho các nhóm, tổ chức phản động trong và ngoài nước nói xấu chế độ, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong đó, mục tiêu quan trọng nhất là tiến hành âm mưu “diễn biến hoàn bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, làm cho Việt Nam chuyển hóa theo chế độ tư bản chủ nghĩa và hoàn toàn lệ thuộc vào chúng.

          Các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc lịch sử với mục tiêu bôi nhọ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị và thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; mua chuộc, lôi kéo một số phần tử thoái chính trị, con em cán bộ du học ở nước ngoài; từ đó gây “tự diễn biến” dây chuyền, tạo nên những “người hùng ảo tưởng” như Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung,…hòng tạo ra sự khủng hoảng về chính trị, gây hoang mang trong quần chúng. Lợi dụng các mâu thuẫn, khiếu kiện, các vấn đề về dân tộc, tôn giáo, nhân quyền và dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước ta; từ đó thúc đẩy sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta.

          Dưới chiêu bài “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, cái vòi bạch tuộc của các thế lực phương Tây đã lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác. Thực chất của chiêu bài ấy cũng nhằm phục vụ cho chiến lược “diễn biến hòa bình”; bởi lẽ trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chúng xác định dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là bốn đòn đột phá khẩu trong phá hoại tư tưởng ở Việt Nam. Đây là thủ đoạn tinh vi, khó nhận biết; vì chúng đã che đậy được bản chất thù địch, đánh lừa dư luận tạo được sự ủng hộ của dư luận. Chúng lên tiếng đòi “quyền cho nhân dân” nhưng thực chất đó là hành động mị dân, kích động nhân dân chống Đảng Nhà nước. Mục tiêu chiến lược của chúng là không hề thay đổi; song phương thức, thủ đoạn và âm mưu thì biến hóa khôn lường và ngày càng tinh vi, xảo quyệt.

Đặc biệt, trong tình hình hiện nay khi mà các phương tiện thông tin hiện đại dễ dàng xâm nhập đến mọi nhà, việc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến” càng gay go phức tạp trong mỗi con người, trong mỗi gia đình và trong toàn xã hội. Đó không chỉ và vấn đề có ý nghĩa sống còn của cách mạng Việt Nam, sự yên bình của đất nước, hạnh phúc của nhân dân mà còn là nhiệm vụ cấp thiết trước mắt và cơ bản lâu dài của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

          Do vậy, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; đồng thời, chủ động ngăn chặn và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của “diễn biến hoà bình” là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng. Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ Tịch “cán bộ, đảng viên là người lãnh đạo, là đầy tớ trung thành của nhân dân”, dân tin vào Đảng, vào chế độ thông qua hình ảnh, thái độ phục vụ của những người “lãnh đạo – đầy tớ ấy”.

          Mặt khác,  cùng với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, văn học, nghệ thuật đang là vấn đề bức xúc, nóng bỏng, cần phê phán mạnh mẽ các khuynh hướng bôi nhọ, hạ bệ thần tượng, nói xấu chế độ và lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta của các thế lực thù địch và những người vô tình hay cố ý a dua, làm theo.

Bên cạnh đó, các cơ quan thông tấn, báo chí phải làm tốt chức năng thông tin, tuyên truyền để các tầng lớp nhân dân thống nhất nhận thức về âm mưu và hành động của thế lực phản động, thù địch núp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền’’ nhằm chống phá Nhà nước ta, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phá hoại sự ổn định của đất nước.

          Phải khẳng định rằng, không thể có cá nhân, tổ chức nước ngoài nào lo “một cách vô tư” cho cuộc sống của dân ta, sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta như Đảng, Nhà nước ta đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ vinh quang ấy!

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

--- CÂY SUNG DÂU ---


Nhân dân Việt Nam gọi Đảng Cộng sản Việt Nam bằng hai từ “Đảng ta” một cách trìu mến. Điều đó thể hiện niềm vinh dự lớn lao, đồng thời cũng là trách nhiệm nặng nề của Đảng đối với dân tộc và đất nước.


Nghiên cứu hai từ “Đảng ta” để thấy rõ cội nguồn và bản chất giai cấp của Đảng. Đó là một Đảng vừa theo học thuyết Mác - Lênin mang bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn, vừa có những đặc trưng bản chất của một Đảng ra đời từ một nước thuộc địa.


Không giống như sự ra đời của Đảng ở các nước châu Âu, cội nguồn của Đảng ta không chỉ từ chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân mà còn từ phong trào yêu nước. Nếu chủ nghĩa Mác - Lênin là cơ sở tư tưởng - lý luận, phong trào công nhân là cơ sở vật chất thì yếu tố phong trào yêu nước là cơ sở xã hội rộng lớn của Đảng. Phong trào yêu nước là thành tố đặc trưng nói lên chỗ dựa, niềm tin, sức mạnh, đồng thời khẳng định trách nhiệm của Đẩng đối với dân tộc.


Nói đến Đảng của dân tộc” thì điều quan trọng nhất phải nhận thức, Đảng là tổ chức cao nhất, đội tiên phong của giai cấp công nhân và đội tiên phong, đại biểu lợi ích cho cả dân tộc. Bác Hồ đã từng nói: “Đảng ta không thiên tư, thiên vị, không lo riêng cho một đồng chí nào”, tức là Đảng lo việc cho cả nước, quan tâm và luôn luôn chú ý đến lợi ích của cả dân tộc. Sự quan tâm này thể hiện ở chỗ Đảng vừa lo tính công việc lớn từ hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đồng thời lại luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà, mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân. Một chủ trương, chính sách đưa ra gây hoang mang, lo lắng, bị nhân dân phản ứng thì Đảng phải xem lại trên tinh thần thật sự vì dân. Bác Hồ đã chỉ ra rằng “không chịu tự phê bình, tự chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được”. Đảng phải luôn ý thức sâu sắc rằng hễ nhân dân có kêu ca, oán than thì  Đảng chưa đúng nghĩa công bộc của dân. Theo Người: “Hễ còn một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ”. Chỉ khi nào sự lãnh đạo của Đảng thể hiện bao trùm cả nước, đồng thời gần gũi tận trong lòng mỗi đồng bào ta thì mới khẳng định được sự vĩ đại và sức mạnh của Đảng.


Để Đảng ta gần gũi trong lòng mỗi đồng bào ta, thì như Bác Hồ đã dạy, Đảng phải nhất quán giữa lời nói với việc làm và nêu gương. Không thể để tình trạng nghị quyết, chủ trương hay việc làm thì dở; chính sách một đường, thi hành một nẻo. Trong Đảng mà có những cán bộ đảng viên quan liêu, vô cảm trước đời sống khó khăn, thiếu thốn của nhân dân sẽ làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Mà điều đáng sợ nhất là lòng tin của nhân dân bị giảm và đi tới chỗ mất lòng tin. Bời lòng tin của nhân dân chính là chỗ dựa vững chắc nhất, sức mạnh lớn nhất của Đảng cầm quyền. Sự thiếu thốn nghèo khó về mặt vật chất không thể xem thường, nhưng thách thức lớn nhất của Đảng và chế độ là không công bằng và lòng dân không yên.


Về vật chất, nhân dân không bào giờ chấp nhận sự đầu tư vô nguyên tắc, đổ xuốn sông, xuống biển làm lãng phí, thất thoát hàng nghìn tỷ đồng hoặc rơi vào tay một nhóm người dẫn đến những “cục máu đông” về kinh tế như kiểu bất động sản, nợ xấu ngân hàng. Trong khi đó, sự phân hóa giàu nghèo trong Đảng ngày càng tăng.


Về tinh thần, nhân dân muốn Đảng có thái độ rõ ràng, cụ thể với một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp suy thoái về đạo đức, lối sống dẫn đến  những “cục máu đông” về chính trị và những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng… Nếu không tẩy bỏ các phần tử hủ hóa đó ra ngoài Đảng, theo quan điểm Hồ Chí Minh thì đó là nguy cơ của Đảng, là lực cản lớn nhất trên con đường phát triển đất nước.


          Đảng phải thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh “đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân”. Đừng để sự tha hóa về văn hóa của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên làm hoen ố hình ảnh đẹp đẽ của một Đảng vĩ đại “như biển rộng, như núi cao. Hơn tám mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình”.




Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2013


 *Alice*


Đôi lời về bài viết “Họ định chơi ác dân”  trên blog PVĐ

Đọc bài viết “Quân đội không thể và không nên trung lập – Lịch sử đã cảnh báo” của tạp chí Cộng sản 1-3-2013 tôi thấy thật chí lý. Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, của Tổ quốc XHCN và nhân dân.

Lịch sử đã chứng minh, một khi quân đội trở thành lực lượng vũ trang trung lập sẽ dẫn đến khủng hoảng. Đó là bài học sâu sắc mà Liên bang Xô Viết đã để lại cho chúng ta. Vào những thập niên cuối thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết vào cuối năm 1991. Mặc dù lúc đó Quân đội Liên Xô còn 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng do bị tha hóa, biến chất về chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc XHCN.

Còn thực tế “phi chính trị hóa quân đội” ở các nước tư bản như thế nào? Trong cuốn “Đảng phái và chính trị ở Hoa Kỳ”, nhà nghiên cứu chính trị Mỹ Clinton Rossiter đã phân tích sâu sắc sự chia rẽ, tranh giành quyền lực dẫn đến những xung đột chính trị giữa Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa, coi đó là một đặc trưng của chính trường Mỹ. Dấu ấn trong bốn năm đầu của Tổng thống B.Ô-ba-ma chính là những đối đầu giữa hai đảng ở quốc hội hơn là những đạo luật và quyết sách được thông qua. Hai năm cuối trong nhiệm kỳ đầu của B.Ô-ba-ma, chính quyền gần như tê liệt bởi đảng Cộng hòa nắm đa số ở Hạ viện đã phủ quyết hầu hết các quyết sách của Tổng thống. Trong bối cảnh đó, nhiều tướng lĩnh và chính khách đã kêu gọi “quân đội đứng ngoài chính trị”, nhưng trong thực tế cả hai đảng đều ra sức tranh giành sự ủng hộ về chính trị của quân đội.

Ở Thái Lan, mặc dù nhiều lần các chính khách yêu cầu “quân đội đứng ngoài chính trị”, có lúc cả Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cam kết “quân đội không can dự vào chính trường”, thậm chí Hiến pháp năm 1997 của Thái Lan tuyên bố loại quân đội khỏi chính trị, nhưng trong thực tế không có điều đó. Ngày 19-9-2006, tướng Sonthi cùng một số tướng lĩnh quân đội làm đảo chính lật đổ chính phủ của Thủ tướng Thaksin. Trong 5 năm (2006-2011), các cuộc biểu tình, xung đột của các phe “Áo vàng” (PAD) và “Áo đỏ” (UDD) làm cho Thái Lan lâm vào khủng hoảng chính trị, bốn lần thay đổi chính phủ; quân đội đã tham gia trấn áp những người biểu tình ủng hộ Thaksin. Trong bầu cử tháng 7-2011, tướng Prayut Chanocha - Tổng Tham mưu trưởng liên quân tuyên bố quân đội không can thiệp vào chính trị, song lại hậu thuẫn đắc lực cho Đảng Dân chủ của cựu Thủ tướng Abhisit.

Đối với sự kiện Thiên An Môn ở Trung Quốc, thiết nghĩ Đảng Cộng sản Trung Quốc hành động như vậy vì họ đã không còn sự lựa chọn nào khác để có thể bảo vệ chế độ. Chính các thế lực thù địch chủ nghĩa xã hội đã thưc hiện “Diến biến hòa bình” làm cho lớp thanh niên, sinh viên Trung Quốc ngộ nhận về bản chất của Đảng Cộng sản. Đó có thể coi là một vết nhơ trong lịch sử Trung Hoa…

Ở Việt Nam, từ ngày được thành lập, quân đội ta luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Quân đội ta luôn trung thành với Đảng, phục vụ nhân dân. Lý tưởng chiến đấu của quân đội ta là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Đó là lý tưởng chính trị - đạo đức không chỉ mang tính cách mạng và khoa học, mà còn thấm đượm tính nhân văn sâu sắc; không chỉ phản ánh sự vận động, phát triển đúng quy luật của xã hội Việt Nam đương đại, mà còn phản ánh khát vọng thiêng liêng tự giải phóng, giành quyền Độc lập - Tự do - Hạnh phúc và vươn lên làm chủ của các thế hệ người Việt Nam xuyên suốt hành trình lịch sử dân tộc. Lý tưởng chiến đấu đó thể hiện tình cảm sâu nặng và trách nhiệm chính trị - đạo đức cao của quân đội đối với Đảng, với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và nhân dân.

Vậy nên thưa ông PVĐ, là do ông không hiểu hay cố tình cơ hội, xuyên tạc tình hình, “chọc gậy bánh xe” mà nói rằng “họ định chơi ác dân”?


--- CÂY SUNG DÂU ---



Thời nào cũng vậy, thế hệ trẻ luôn là lực lượng tiên phong, xông pha vào những nơi gian khổ mà không ngại khó. Điều đó đã được thể hiện rất rõ trong thời chiến. Những người con của đất nước đã hiến dâng cả tuổi thanh xuân của mình - cái tuổi 20 đầy ước mơ ấy - cho Tổ quốc với lý tưởng sống thật cao đẹp và thánh thiện. Đấy là những thanh niên của gần 40 năm trước, còn lớp thanh niên ngày nay thì sao?

Nhìn chung thanh niên nước ta hiện nay có lòng yêu nước nồng nàn, luôn phát huy truyền thống tốt đẹp của thế hệ đàn anh, khẳng định niềm tin, lý tưởng vào cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; có nhận thức và thái độ chính trị đúng đắn, kiên quyết chống lại những biểu hiện sai trái cũng như âm mưu “diễn biến hòa bình”, các hành vi gây tổn hại đến sự phát triển của đất nước của các thế lực phản đông, thù địch; quan tâm đến các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước; có ý chí vươn lên trong học tập, rèn luyện và công tác, mong muốn đất nước sớm thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, không thua kém các nước trên thế giới, được cống hiến nhiều hơn cho đất nước, sẵn sàng vì lợi ích dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia, tình nguyện vì cộng đồng. Nhiều thanh niên có ý thức chính trị tốt, tỷ lệ thanh niên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam ngày càng tăng. Đa số thanh niên nước ta hiện nay có phẩm chất đạo đức tốt, tôn trọng các chuẩn mực đạo đức xã hội, tôn trọng truyền thống văn hóa dân tộc, có ý thức công dân, chấp hành pháp luật, tích cực tham gia các phong trào, hoạt động tập thể, xung kích, sáng tạo, tình nguyện vì cộng đồng, sống có ý nghĩa, luôn biết quan tâm, giúp đỡ người khác, có tinh thần tương thân tương ái. Nhiều tấm gương vượt qua khó khăn của bản thân, gia đình để vươn lên thành những người hữu ích; không ít thanh niên dám đấu tranh quyết liệt với các hiện tượng tiêu cực và tệ nạn xã hội, tỏ thái độ lo lắng, bănkhoăn trước những hiện tượng tiêu cực này, bất bình trước những sai phạm của cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật. Phần lớn thanh niên hiện nay có đời sống văn hóa, tinh thần phong phú.

Tuy nhiên, hiện nay cũng còn không ít thanh niên chưa có trí hướng rõ ràng, chưa hiểu biết đầy đủ về truyền thống cách mạng của Đảng và dân tộc, ít quan tâm đến tình hình đất nước; một bộ phận thanh niên lười lao động, lười học tập, ngại khó, ngại khổ, chưa làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, không có ý chí vươn lên cho bản thân và xã hội, có những thanh niên có biểu hiện giảm sút niềm tin, bản lĩnh non kém, bị kích động, lôi kéo tham gia vào các hoạt động phạm pháp. Đạo đức, lối sống của bộ phận thanh thiếu niên còn lệch lạc, đề cao hưởng thụ, sống thực dụng, đua đòi, xa hoa, lãng phí, sung bái thần tượng thái quá, ít quan tâm đến cộng đồng và những người xung quanh. Một bộ phận thanh thiếu niên còn thiếu ý thức rèn luyện, không tích cực tham gia cac hoạt động Đoàn, Hội, Đội, các phong trào và hoạt động tập thể do nhà trường, địa phương tổ chức; lười học, lười lao động, không dám đấu tranh với sai trái, tiêu cực trong xã hội; thiếu quan tâm đến tình hình đất nước.

Được coi như trường học xã hội của thanh niên, việc giáo lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên là công tác quan trọng, thường xuyên, liên tục của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Trong những năm gần đây, cán bộ Đoàn đã có nhiều đổi mới trong công tác giáo dục thể hiện qua các việc sau:

Một là, thông qua cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”, các cấp bộ Đoàn đã có nhiều mô hình phong phú để giáo dục thanh thiếu nhi như “Nhật ký làm theo lời Bác”, “Sổ vàng học tập và làm theo lời Bác”, “Sổ tay tự rèn”…; xây dựng các tiêu chí về chuẩn mực, đọa đức, lối sống cho các đối tượng đoàn viên thanh niên gắn liền với chương trình rèn luyện đoàn viên và tuyên dương, biểu dương các điển hình. Hiện nay, trung ương Đoàn đã tổ chức trao nhiều giải thưởng cho những điển hình tiêu biểu như: Giải Sao Tháng giêng cho sinh viên, Giải thưởng Lý Tự Trọng cho học sinh, Giải thưởng Lương Đình Của cho thanh niên nông thôn, giải thưởng Người thợ trẻ giỏi cho thanh niên công nhân,…

Hai là, Đoàn thanh niên chú trọng đổi mới phương thức giáo dục lý tưởng, cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh thiếu niên. Trong đó, đẩy mạnh hơn nữa việc giáo dục thông qua phong trào, hành động cụ thể, lấy môi trưởng thực tiễn để bồi dưỡng, giáo dục, vun đắp những giá trị tốt đẹp cho đoàn viên thanh niên.

Ba là, Đoàn thanh niên cũng chú trọng nghiên cứu, tìm tòi những mô hình mới để giaó dục, rèn luyện thanh thiếu niên như “Học kỳ quân đội” – là chương trình giáo dục, bồi dưỡng lòng yêu nước, về ý thức quốc phòng, anh ninh; tinh thần đoàn kết, ý chí vượt qua khó khăn, thử thách và các kỹ năng xã hội,… Đoàn cũng đã có nhiều hình thức sử dụng hệ thống thiết chế, phương t thiện truyền thông, tiện ích của Internet để tạo sân chơi và định hướng các hoạt động lành mạnh cho thanh thiếu niên.

Để công tác giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng cho thanh niên trong thời gian tới đạt được kết quả tích cực hơn nữa, Trung ương Đoàn tập trung vào một số giải pháp như :

Tiếp tục đầy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, thực hiện những tiêu chí cụ thể để rèn luyện trong từng đối tượng đoàn viên

Thứ hai, tăng cường quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, phổ biến kiến thức về pháp luật, lý luận chính trị, kiến thức và các kỹ năng xã hội

Thứ ba, thường xuyên phát hiện và nêu gương người tốt việc tốt, từ đó đẩy mạnh và nhân rộng những tấm gương này trong thanh niên.

Thứ tư, bản thân tổ chức đoàn cần tự đổi mới mình, bởi than niên là tầng lớp rất năng động, sáng tạo. Luôn luôn đổi mới, tìm ra những hướng sáng tạo Đoàn mới thu hút sự tham gia nhiệt tình của thanh niên.

Với quan điểm và nhận thức thanh niên là lực lượng có ý nghĩa chiến lược, quyết định sự phát triển hiện tại và tương lai của đất nước, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn coi trọng và hết sức quan tâm đến vấn đề thanh niên. Đó cũng là nhận thức mà Trung ương Đoàn luôn luôn học tập và phát huy./.


Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2013

Người Hà Nội

Năm 1986, đứng trước những thách thức xã hội và khủng hoảng kinh tế, lãnh đạo Đảng và nhà nước đã dám nhìn thẳng vào sự thật để chấp nhận đổi mới mà trước hết và quan trọng nhất là đổi mới về tư duy. Đặc trưng của đổi mới từ cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990 là chấp nhận những quy luật kinh tế thị trường, cho phép kinh tế tư nhân phát triển, và mở cửa cho kinh tế đối ngoại. Kết quả của những đổi mới về nhận thức là sự ra đời của các đạo luật chưa từng có trong tiền lệ như Luật đầu tư nước ngoài 1987, Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp Tư nhân cuối năm 1990. Tiếp sau đó, Việt Nam tiến hành đàm phán bình thường hoá quan hệ với các nước từng đối đầu với mình và đã có những bước đi mạnh mẽ trong đối ngoại với các nước ASEAN, Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu vào năm 1995. Kết quả của đợt đổi mới này là Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao nhất trong lịch sử vào các năm 1995 và 1996 (lần lượt là 9,5 và 9,34%) và dòng đầu tư nước ngoài cũng đạt kỷ lục trong năm 1996 (trên 8 tỷ USD cam kết). Đến giữa những năm 1990, cải cách đã giúp Việt Nam cơ bản thoát khỏi khủng hoảng và đưa mức sống của người dân lên cao một bước. Đổi mới lần thứ 2 Tuy vậy, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á năm 1997 đã đặt Việt Nam vào nguy cơ đánh mất đà tăng trưởng và những thành quả đạt được sau một thập kỷ đổi mới. Trong hai năm 1998 và 1999, tăng trưởng GDP của Việt đang từ xấp xỉ 9.5% xuống thấp kỷ lục là 4.8% năm 1999. Trước tình hình đó, nhiều học giả trong và ngoài nước đã kêu gọi chính phủ tiến hành cải sâu rộng hơn nữa bởi những cải cách từ sau Đổi mới 1986 đã phát huy hết tác dụng Tác động ngày càng sâu rộng của cuộc khủng hoảng đã đặt ra yêu cầu "Đổi Mới II" cho Việt Nam. Tuy nhiên, trong nội bộ ta lúc đó đã có sự tranh luận và phản biện rất gay gắt về lựa chọn hướng đi cho Việt Nam khi đất nước bước vào những năm đầu của thế kỷ 21. Hãy lấy một ví dụ cụ thể cho thấy cuộc đấu tranh về tư tưởng và nhận thức đã diễn ra mạnh mẽ như thế nào lúc đó: quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Thương mại Việt Mỹ. Theo ông Nguyễn Đình Lương, Trưởng đoàn phán của Việt Nam, hai bên bước vào cuộc đàm phán với nỗi ám ảnh về một cuộc chiến đã đi qua với bao đau thương, mất mát cho cả hai dân tộc. Điều đó gây ra sự nghi kị, thiếu lòng tin, nhất là cho phía Việt Nam. Sau khoảng 3 năm đàm phán với nhiều nhân nhượng của cả hai phía, đến giữa năm 1999, hai bên đã thống nhất được hầu hết các điều khoản mang tính kỹ thuật và chỉ còn một bước là ký kết. Tuy vậy, rất bất ngờ, vào thời điểm đó, đoàn đàm phán nhận được thông báo tạm hoãn ký kết. Phải mất thêm một năm nữa Việt Nam mới đặt bút ký kết hiệp định này và được Quốc hội thông qua vào cuối năm 2001. Quá trình thay đổi nhận thức là một thách thức lớn nhất cho việc ký kết và dẫn đến nhiều tranh luận nội bộ gay gắt. Nhưng chính lợi ích dân tộc đã xoá đi những lo sợ, nghi kị để Việt Nam chấp nhận bản hiệp định. Và quyết định này là được chứng minh là đúng đắn khi nó mở ra cánh cửa cho Việt Nam ra nhập WTO năm 2006; và giờ đây Hoa Kỳ là một trong những đối tác thương mại hàng đầu và nhà đầu tư lớn nhất của Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo tài tình của ĐCSVN, có thể nói, những năm 2000-2001đã mở đầu cho cuộc "Đổi Mới II" ở nước ta với những đặc trưng là tạo mặt bằng pháp lý bình đẳng cho các khu vực kinh tế (nhà nước, tư nhân, nước ngoài) và hội nhập sâu hơn nữa vào nền kinh tế thế giới. Sau Hiệp định thương mại Việt Mỹ là quá trình đàm phán gia nhập WTO với những cam kết cải cách luật pháp toàn diện và sâu rộng. Đỉnh cao của quá trình Đổi Mới II là năm 2005 khi Việt Nam đã thông qua hàng loạt đạo luật và chính sách đổi mới trước thềm gia nhập WTO vào năm 2006. Trong đó nổi bật là Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp với tư tưởng chính là tạo ra một khuôn khổ pháp lý thống nhất và công bằng cho các thành phần kinh tế phát huy hết nội lực. Kết quả của Đổi Mới II là nền kinh tế nước ta lại tiếp tục cất cánh khi đạt mức tăng trưởng lần lượt là 8.4 và 8.2% trong hai năm 2005 và 2006; tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 19,5% năm 2004 so với 58% năm 1993 Đổi mới lần..3 Nhưng rồi một lẫn nữa, năm 2008 khủng hoảng kinh tế thế giới lại nổ ra và tác động mạnh mẽ đến mọi mặt kinh tế-xã hội của nước ta. Tăng trưởng đã giảm mạnh và trong hai năm vừa qua chỉ đạt lần lượt là 5.8 và 5.0 %. Từ năm 2008-2011, lạm phát trung bình là 16%/năm. Bất động sản hầu như đóng băng. Đồng thời, sự phá sản của Tập đoàn Vinashin và làm ăn thu lỗ của nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã đặt nước ta vào một giai đoạn mới đầy thức thách. Đứng trước những thách thức này, Đảng và Chính phủ đã nhận thức rõ được nhu cầu của đổi mới. Nhưng như lịch sử đã diễn ra, sẽ luôn có những trở lực cho đổi mới và quan trọng nhất vẫn là trở lực về nhận thức và tư tưởng. Trước đổi mới 1986 và đầu những năm 2000, đã có không ít lo sợ, nghi kị về sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa, về diễn biến hoà bình, về sự sụp đổ của hệ thống kinh tế nhà nước. Nhưng rồi, với sự sáng suốt của các nhà lãnh đạo, mà Việt Nam đã tìm cho mình lối đi đúng và dám chấp nhận chuyển hướng. Vậy lần này thì sao? Từ năm 2008 Việt Nam đã được xếp vào các nước có thu nhập trung bình. Trong hai thập kỷ vừa qua chúng ta đã nỗ lực để thoát nghèo và chúng ta đã cơ bản thành công. Còn giờ đây thì không phải là thoát nghèo nữa mà là thoát ra khỏi "cái bẫy thu nhập trung bình", để đưa Việt Nam cất cánh như các con hổ Châu Á: Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Thái Lan. Việt nam có tiếp tục phát huy được những thành tựu đã có đưa đất nước phát triển lên một tầm cao mới hay không. Điều đó phụ thuộc vào việc Việt Nam có thể tiếp tục công cuộc đổi mới hay không. Các Hội nghị Trung ương 4,5,6 của Đảng năm 2012 đã thể hiện phần nào quyết tâm cải cách hơn nữa. Đợt sửa đổi hiến pháp mà đảng và nhà nước đang tiến hành sẽ là cơ hội lớn cho nước ta tháo những "nút thắt" hiện nay để khôi phục đà tăng trưởng và thành công trong công nghiệp hoá và hiện đại hoá vào năm 2020 như đã đề ra. Chúng ta đã có nhiều luật mới, đã hội nhập kinh tế quốc tế khá sâu rộng . Và chắc chắn dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam chúng ta sẽ tiếp tục thu được nhiều thắng lợi, nhiều thành tựu trong quá trình đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

Nguồn sưu tập trên internet

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

---Mặt trời hồng---


Từ khi ra đời cho đến nay, chỉ trong vòng hơn hai chục năm, Internet đã phát triển với tốc độ như vũ bão, nhanh chóng lan toả, bao trùm lên toàn bộ các châu lục, trở thành một mạng thông tin phức hợp toàn cầu. Với một hệ tài nguyên hầu như vô tận, mỗi bước phát triển của Internet là một bước mở ra những khả năng sử dụng, khai thác rộng lớn hơn, hiệu quả hơn, thoả mãn tốt hơn các nhu cầu phát triển, tạo ra sức mạnh chi phối toàn cầu vững chắc hơn. Đồng thời đó cũng là sự tự quảng cáo mạnh mẽ nhất, tạo cho Internet có sức hút lớn hơn đối với xã hội - là tiền đề cho sự phát triển.

Sự phát triển mạnh mẽ của Internet mang đến những ảnh hưởng tích cực với toàn nhân loại; không thể phủ nhận những lợi ích, thành tựu mà Internet đem lại; Cùng với đó, mặt tiêu cực mà nó đem đến cũng không nhỏ. Trong đó, có mặt trái không thể phủ nhận đó là các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng công nghệ thông tin để tạo ra các khả năng tác động chống phá chế độ ta.


Qua thống kê khảo sát, về cơ bản có thể nhận thấy hiện nay có 4 loại nguồn tin được sử dụng, hay bị lợi dụng để tuyên truyền những quan điểm thù địch, chống đối Việt Nam qua mạng Internet, đó là:





  1. Nguồn tin do những kẻ phản động, chống đối tự tổ chức khai thác.




  2. Nguồn tin từ báo chí khai thác.




Với 2 loại nguồn tin trên, chúng ta không thể chi phối, do hoàn toàn không nắm quyền chủ động và không thể tác động trực tiếp bằng luật pháp hay quyền lực khác. Vì vậy, khả năng chống lại nguồn tin này là bị động.





  1. Nguồn tin được cung cấp có chủ đích từ trong nước. Đây là nguồn thông tin do những nhân vật bất mãn, chống đối chủ động tung ra ngoài để gây áp lực với các cơ quan quyền lực trong nước hoặc những người được các thế lực từ ngoài biên giới “đặt hàng”.




  2. Nguồn tin khai thác ngay trên báo chí của ta. Trong số những thông tin trên báo chí ta mà bọn chống đối lợi dụng khai thác, có những thông tin chính đáng bị chúng bóp méo. Đây là việc không thể tránh khỏi. Tuy nhiên “giá trị tiêu cực của việc khai thác nguồn thông tin này cũng không cao do khó có thể tạo tin tưởng dẫn đến chấp nhận dễ dàng của nhân dân.




Đối với hai loại nguồn tin trên, ta có khả năng khắc phục hoặc giảm thiểu căn bản bằng những giải pháp như: giáo dục và thực hiện nghiêm luật và các quy định về giữ bí mật, hướng dẫn nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo, đặc biệt là những người có trách nhiệm chủ trì ở các toà soạn./.


Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

-CÂY SUNG DÂU-

“Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng công tác GDQP-AN. Công tác GDQP-AN cho thanh niên, học sinh có vai trò, vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Cùng với nhiệm vụ giảng dạy văn hóa, các trường THPT của ngành GD-ĐT các địa phương đã thực hiện tốt công tác GDQP-AN cho học sinh; giúp các em có nhận thức, trách nhiệm, có những hiểu biết cần thiết về kiến thức quốc phòng, sẵn sàng tham gia vào công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước, thành quả của cách mạng, bảo vệ Đảng và Nhà nước.

Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ dạy học môn GDQP-AN, các nhà trường hiện nay đã xây dựng kế hoạch, giảng dạy ngày càng hoàn thiện và phù hợp với thực tiễn. Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh, các thầy cô giáo chủ nhiệm cũng như các thầy, cô giảng dạy môn GDQP-AN đều nâng cao ý thực, trách nhiệm, luôn đổi mới phương pháp giảng dạy. Để từ đó các em học sinh có ý thức tu dưỡng, học tập tốt không chỉ với bộ môn văn hóa mà còn yêu thích bộ môn GDQP-AN, tích cực học tập lý thuyết, tham gia thực hành luyệ tập. Các xã vùng tuyển sinh có phong trào toàn dân, xây dựng lực lượng tự vệ, tham gia huấn luyện thường xuyên, là tiền đề cơ bản để nhà trường thực hiện tốt công tác GDQP-AN.

Sau đây là một số kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn về công tác GDQP-AN:

Một là, cần quán triệt trong cán bộ, giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh nhận thức đúng đắn sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của công tác GDQP-AN.

Hai là, phát huy sức mạnh của nhà trường, kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức Đoàn trường, Hội đồng sư phạm, nâng cao vai trò trách nhiệm của giáo viên, giảng dạy GDQP-AN, động viên hướng dẫn học sinh học tập GDQP-AN kết quả tốt, góp phần đẩy mạnh các phong trào thi đua trong toàn trường

Ba là, thực hiện tốt chương trình GDQP-AN 35 tiết trong năm học cho mỗi khối lớp. Ban giám hiệu luôn sát sao, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện quy chế chuyên môn của giaó viên giảng dạy GDQP-AN, ý thức, thái độ học tập, đánh giá kết quẩ học tập của học sinh công bằng, công khai, nghiêm túc.

Bốn là, phối kết hợp chặt chẽ với Ban chỉ huy quân sự huyện, xã để làm tốt công tác GDQP-AN và phong trào thi đau quyết thắng lực lượng vũ trang huyện, bảo vệ trật tự an ninh trong nhà trường cũng như trong toàn huyện.

GDQP-AN cho học sinh, sinh viên là môn học và là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, tạo cho thế hệ trẻ có điều kiện tu dưỡng phẩm chất, rèn luyện năng lực để sẵn sàng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để đảm bảo chất lượng hiệu quả GDQP-AN cho học sinh, sinh viên theo mục tiêu đề ra trong giai đoạn hiện nay, ngoài những kết quả đã đạt được chũng ta đã, đang và sẽ đạt được đội ngũ giáo viên, giảng viên chuẩn về trình độ, năng lực để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và ngành GD&ĐT giao phó./.

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

** Alice **
Lịch sử cách mạng Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân, đế quốc đã xuất hiện và phủ định đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như một tất yếu tự nhiên. Đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lơi khác. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, không tranh giành quyền lãnh đạo với ai. Trong hơn 80 năm qua, ở Việt Nam cũng có thời kỳ đa đảng. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản còn có sự tồn tại của hai đảng đối lập (Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội); khi quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam, hai đảng đó cũng cuốn gói chạy theo. Có thời kỳ ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, còn tồn tại Đảng Dân chủ Việt Nam, Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đó hai đảng này đã tuyên bố tự giải tán và chỉ còn Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sản phẩm tự nhiên, mang tính khách quan của lịch sử đất nước.

Với tất cả tinh thần khiêm tốn, Chủ tịch Hồ Chí Minh - người khai sinh và lãnh đạo Đảng ta khẳng định: “Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao”. Chứng minh sự vĩ đại ấy không phải là mục đích của bài viết, vả lại đã có rất nhiều người làm rõ một sự thật hiển nhiên này. Với sự hiểu biết của mình về lịch sử tôi chỉ xin nói: Đảng kế tục lịch sử và làm nên lịch sử.

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Hiện thực sinh động đó cho thấy giá trị và sức sống bất diệt của chủ nghĩa Mác với tính cách là cương lĩnh chính trị, là học thuyết cách mạng và khoa học. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, chủ nghĩa Mác không hề lạc hậu, không hề lỗi thời, nó vẫn là cơ sở khoa học, phương pháp luận cho việc luận giải các vấn đề cơ bản của thời đại; là kim chỉ nam, ngọn cờ dẫn dắt giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới trên con đường đi tới tương lai xã hội chủ nghĩa.

Việc đòi bỏ điều 4 Hiến pháp vừa phi lý, vừa chẳng hợp tình. Phi lý ở chỗ với vai trò lịch sử của mình không một ai có thể làm thay Đảng ta công cuộc đưa đất nước phát triển, lớn mạnh; chẳng hợp tình ở chỗ cố tình quên lịch sử, cố tình quên những hy sinh xương máu của Đảng ta, dân ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, cố tình quên công lao, đóng góp, vai trò lãnh đạo tiên phong của Đảng ta trong công cuộc đổi mới đã và đang thắng lợi toàn diện. Thậm chí có thể nói đó là việc làm nguy hiểm bởi nó đe dọa sự tồn vong của cả dân tộc này. Một Đảng từ hai bàn tay trắng đã lãnh đạo toàn dân tộc làm cuộc khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân; một Đảng đã lãnh đạo toàn dân đuổi các đế quốc xâm lược lớn nhất thế giới; một Đảng đã lãnh đạo công cuộc đổi mới tạo ra những thắng lợi thành tựu ấn tượng về kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá, xã hội... thì Đảng đó đủ tín nhiệm, đủ trí tuệ, bản lĩnh, niềm tin... để lãnh đạo toàn dân ta tiếp tục tiến bước theo con đường đã chọn đưa dân tộc lên đài vinh quang, đưa đất nước ta sánh vai với các cường quốc. Đây là một thực tế không ai có thể phủ nhận được dù các thế lực thù địch có xuyên tạc gì đi chăng nữa. Chính vì vậy, là một người dân Việt Nam tôi mong mỏi qua việc sửa đổi Hiến pháp lần này, toàn thể nhân dân và các cơ quan chức năng cần phải tiếp tục khẳng định mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp tục đặt niềm tin vững chắc vào Đảng để Đảng lãnh đạo đất nước tiến lên những tầm cao mới./.



** Alice **


Trong những tháng đầu năm 2013 và mùa Xuân Quý Tỵ này, nhân dân cả nước sôi nổi tham gia đóng góp ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Điều đáng nói là trong Dự thảo sửa đổi lần này, Hiến pháp tiếp tục khẳng định một chân lý tại Điều 4, đó là: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Thật vậy, hơn 83 năm qua cả dân tộc Việt Nam không ai không biết chính Đảng Cộng sản Việt Nam - được gọi bằng hai chữ trìu mến “Đảng ta” - đã lãnh đạo Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và hơn 25 năm qua công cuộc đổi mới mà Đảng ta khởi xướng đã đem đến cho đất nước chúng ta biết bao điều đổi thay. Dù vẫn còn những khó khăn, trở ngại song nhân dân Việt Nam ngày càng tin tưởng vào Đảng và cùng nhau phấn đấu nỗ lực vươn tới tương lai ngày càng tươi sáng. Sau khi có chủ trương của Quốc hội, toàn thể nhân dân đã hăng hái, tích cực tham gia đóng góp ý kiến vào bản dự thảo. Qua những ý kiến đóng góp của nhân dân thấy rằng đại đa số nhân dân đều mong mỏi có được một bản Hiến pháp mới toàn diện, đúng đắn, thể chế hóa được đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tuy nhiên, có những kẻ cơ hội dựa vào một số sai lầm của Đảng ta để kêu gọi sửa đổi Điều 4 Hiến pháp đòi thay đổi vị trí lãnh đạo cách mạng của Đảng. Phải thấy một chân lý giản đơn rằng, con người ta ai cũng có sai lầm, có làm việc là có sai lầm, có cái sai mới dẫn đến có cái đúng. Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân ta làm cách mạng đổi thay cả một thời đại, công việc cực kỳ phức tạp như thế, biết bao khó khăn gian nan chồng chất, thù trong giặc ngoài hiểm nguy như vậy, lại chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, thì tránh sao được sai lầm. Nhưng Đảng ta đã nhanh chóng nhận ra và sửa chữa để rồi qua 27 năm đổi mới đưa nước ta có những bước tiến vượt bậc. Vì vậy, trước những luận điệu xuyên tạc và chống phá của những kẻ đang lẻ loi muốn đi ngược lại nguyện vọng của cả dân tộc là phải xoá bỏ Điều 4 của Hiến pháp nói trên thì tất cả những người yêu nước chân chính lại tích cực tham gia góp ý mà đặc biệt là tiếp tục khẳng định phải giữ Điều 4 nói trên và bổ sung thêm những điều rất sâu sắc và có ý nghĩa như “đồng thời là đội tiên phong… của dân tộc Việt Nam” hoặc “đại biểu trung thành lợi ích… của cả dân tộc”. Một lần nữa có thể khẳng định: Chỉ có Đảng ta chứ không thể có bất kỳ một lực lượng chính trị nào khác gánh vác thay, làm thay sứ mệnh lịch sử đó là lãnh đạo toàn dân ta tiếp tục tiến bước theo con đường đã chọn đưa dân tộc lên đài vinh quang, đưa đất nước ta sánh vai với các cường quốc./.


Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

Mrs. Nguyễn

Thời gian gần đây, sau khi Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng thì ngay lập tức trên một số trang mạng, blog của các “nhân vất” chống đối Nhà nước có đăng những bài viết xoay quanh vấn đề này với nội dung hoàn toàn không đúng sự thật và theo sự suy diễn của bọn chúng. Cúng xin được nói đây mới chỉ là Kiến nghị sửa đổi thôi chứ chưa phải là Bản sửa đổi chính thức, trước khi có Bản sửa đổi chính thức Nhà nước ta còn chưng cầu ý kiến đóng góp của người dân. Vì vậy những điều viết trên các trang mạng, các blog kia là không có căn cứ, là xuyên tạc nhằm làm hoang mang lòng dân, nhằm thực hiến ý đồ của chúng “xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, để nước ta trở thành một nước đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, đó chính là mục đích chính của chúng.

Xin giới thiệu bài viết của Luật gia Thịnh Phúc, đăng trên trang Quân đội nhân dân, phân tích về một số điểm mới đáng chú ý trong dự thảo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) để các bạn đọc và tham khảo, để không bị những bài viết suy diễn kia làm hoang mang.

I - Sửa đổi toàn diện

Trước hết, có thể khẳng định, dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã có sự kế thừa những giá trị khoa học về nội dung và kỹ thuật lập hiến trong các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980 và 1992. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cũng đã thể chế hóa kịp thời Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Bên cạnh đó, trước xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 còn có sự kế thừa những thành tựu, kinh nghiệm xây dựng Hiến pháp của các nước trên thế giới, làm rõ mối quan hệ giữa Hiến pháp với các cam kết và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là trong trường hợp các điều ước quốc tế trái với quy định của Hiến pháp Việt Nam.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 vừa công bố có Lời nói đầu, 11 Chương, 124 Điều. So với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) giảm một Chương, 23 Điều. Trong số 11 Chương của dự thảo Hiến pháp mới có một Chương mới hoàn toàn (Chương X: HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP, HỘI ĐỒNG BẦU CỬ QUỐC GIA, KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC). Trong số 124 Điều của dự thảo Hiến pháp mới có tới 11 Điều viết hoàn toàn mới, 102 Điều sửa đổi bổ sung. Điều này cho thấy việc sửa đổi Hiến pháp lần này khá toàn diện.

II - Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Hiến pháp năm 1992 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; bước đầu thiết lập cơ sở cho quá trình đổi mới và cải cách bộ máy nhà nước phù hợp với tiến trình đổi mới của nhà nước ta. Tuy nhiên, nội hàm về nhà nước pháp quyền vẫn chưa được thể hiện cụ thể và xuyên suốt trong Hiến pháp năm 1992, nhất là các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước. Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định nguyên tắc chung về phân công, phối hợp mà chưa xác định rõ các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp nên chưa phân định đầy đủ, đúng đắn, minh bạch về thẩm quyền của mỗi cơ quan. Chính vì vậy, việc kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan trong Hiến pháp năm 1992 cũng chưa được xác định rõ. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp mặc dù được giao cho nhiều cơ quan khác nhau nhưng chưa thật sự cụ thể, hiệu lực, hiệu quả bảo vệ Hiến pháp chưa cao. Mô hình tổ chức chính quyền địa phương theo Hiến pháp và trên thực tiễn thi hành phát sinh một số bất cập, chưa phù hợp với xu thế quản trị quốc gia hiện đại trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khắc phục được những hạn chế trên.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này đã có những điều, khoản khẳng định Quốc hội là cơ quan lập pháp; Chủ tịch nước là người đứng đầu nhà nước, thay mặt nhà nước về đối nội, đối ngoại; Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất, thực hiện quyền hành pháp; Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan cũng đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, bảo đảm để Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao. Quy định cụ thể hơn thẩm quyền, trách nhiệm của Chủ tịch nước trong hoạt động lập pháp, thống lĩnh các lực lượng vũ trang, Chủ tịch hội đồng Quốc phòng và An ninh… Tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ chủ động hơn trong việc đề xuất và tổ chức thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xác định rõ trách nhiệm của tập thể Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên. Sửa đổi các quy định về tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân theo định hướng cải cách tư pháp.

III - Thành lập Hội đồng Hiến pháp

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 có thêm một điều (Điều 120) quy định về Hội đồng Hiến pháp với chức năng là bảo vệ Hiến pháp. Theo Điều 120 của dự thảo thì Hội đồng Hiến pháp là cơ quan do Quốc hội thành lập, gồm Chủ tịch, các Phó chủ tịch và các Ủy viên. Đây là vấn đề rất mới đối với Việt Nam đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bởi lẽ trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, các hành vi vi hiến đều có thể xảy ra. Trong hoạt động lập pháp, các hành vi vi hiến có thể xảy ra là: Ban hành văn bản không đúng thẩm quyền đã được Hiến pháp quy định; không ban hành văn bản để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện và bảo vệ các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; ban hành luật chứa những quy định trái với quy định cụ thể của Hiến pháp hoặc không phù hợp với tinh thần của Hiến pháp. Hiến pháp năm 1992 giao cho Quốc hội thẩm quyền ban hành, sửa đổi Hiến pháp và các đạo luật, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh. Tuy nhiên, cả Hiến pháp và pháp luật đều không quy định trách nhiệm phát sinh từ các đạo luật vi hiến mà Quốc hội đã ban hành hoặc có sai sót trong quá trình biểu quyết thông qua. Đây là sự chưa rõ ràng giữa quyền lực của Quốc hội với quyền lực của Hiến pháp.

Trong hành pháp, không tuân thủ Hiến pháp được biểu hiện dưới hai hình thức chủ yếu là ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật có nội dung trái với Hiến pháp; lãnh đạo cơ quan hành pháp chỉ đạo, điều hành không đúng nguyên tắc Hiến pháp, không đúng chức năng, thẩm quyền đã được Hiến pháp quy định. Trong hoạt động tư pháp, vi phạm Hiến pháp thường thấy qua các biểu hiện vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án.

Chính vì thế việc thành lập Hội đồng Hiến pháp là cần thiết. Theo quy định của Điều 120 trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, Hội đồng Hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành; kiến nghị Quốc hội xem xét lại văn bản quy phạm pháp luật của mình khi phát hiện có vi phạm Hiến pháp; yêu cầu Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật của mình hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ văn bản vi phạm Hiến pháp; kiểm tra tính hợp hiến của điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trình Quốc hội, Chủ tịch nước phê chuẩn.

 IV – Bảo đảm nguyên tắc: Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân

Một trong những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN đó là, quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà nước. Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: “Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân” nhưng Hiến pháp năm 1992 chưa thể hiện đầy đủ và nhất quán tư tưởng chủ quyền của nhân dân, mà nội dung cốt lõi là nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện như trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã nhấn mạnh. Để khắc phục hạn chế trên, dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã thể hiện xuyên suốt tư tưởng chủ quyền nhân dân, tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạo của nhân dân.













Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận và làm sâu sắc hơn các phương thức để nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, bao gồm cả quyền lập hiến bằng việc đóng góp ý kiến trực tiếp vào bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp trước khi Quốc hội thông qua; nhân dân có quyền bãi nhiệm các đại biểu Quốc hội do họ bầu ra, đồng thời có quyền biểu quyết về những vấn đề trưng cầu ý dân.

Điều 2 và Điều 3 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Dự thảo Hiến pháp mới cũng đã bổ sung thêm các quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân như: Quyền được có quốc tịch; quyền được bảo đảm an sinh xã hội; quyền được thụ hưởng giá trị văn hóa; được bảo vệ trong tiêu dùng…

V- Làm rõ hơn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và khu vực, bên cạnh việc thể chế hóa tư duy đổi mới của Đảng về quốc phòng-an ninh trong Cương lĩnh năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011), dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã làm rõ hơn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Dự thảo tiếp tục khẳng định mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cũng đã hiến định hóa nguyên tắc lực lượng vũ trang đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân nói riêng và sự nghiệp quốc phòng-an ninh nói chung.

Điều 48 của dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 được xây dựng trên cơ sở Điều 77 của Hiến pháp năm 1992 “Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và quyền cao quý của công dân. Công dân phải làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân”, ngoài ra đã bổ sung thêm “việc thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự do luật định”. Đây là vấn đề mới được ban soạn thảo bổ sung xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm của các nước trong việc thực hiện nghĩa vụ thay thế nghĩa vụ quân sự.

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993 quy định: “Công dân Liên bang Nga trong trường hợp vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo mà không thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc trong những trường hợp do luật quy định thì có quyền thay bằng hình thức phục vụ dân sự”.

Ở một số quốc gia khác cũng có những quy định về công dân thực hiện phục vụ dân sự thay thế nghĩa vụ quân sự. Những người này được hưởng đầy đủ các chế độ, chính sách phù hợp với tính chất, công việc mà mình đảm nhiệm theo quy định của pháp luật.

Ở nước ta, cũng đã có những quy định trong các Luật, Nghị định về việc tạm hoãn, miễn gọi công dân thực hiện nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, do điều kiện số công dân nhập ngũ hằng năm ở nước ta chỉ chiếm khoảng 0,12% tổng dân số và 5,87% tổng số công dân nam trong độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi, vì vậy rất cần có cơ sở pháp lý cho việc phục vụ dân sự thay thế thực hiện nghĩa vụ quân sự để bảo đảm công bằng xã hội.

Điều 69 của dự thảo bổ sung Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung Điều 44 của Hiến pháp năm 1992) khẳng định “Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân.

Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới. Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do luật định”.

VI - Bổ sung thêm địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước

Trải qua 18 năm đi vào hoạt động, Kiểm toán Nhà nước đã khẳng định được vai trò là công cụ quản lý tài chính Nhà nước hữu hiệu, nâng cao hiệu quả quản lý nguồn lực tài chính quốc gia, tăng cường tính minh bạch và công khai nền tài chính đất nước. Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2005 với nhiều nội dung; trong đó có quy định nguyên tắc hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước là “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; trung thực, khách quan”. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực, kinh tế thế giới và thực tiễn hoạt động Kiểm toán Nhà nước, quy định khuôn khổ pháp lý như hiện nay cho tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước vẫn còn tồn tại một số bất cập, cụ thể: Địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước và Tổng Kiểm toán Nhà nước chưa được quy định trong Hiến pháp theo khuyến cáo của Tổ chức quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao (INTOSAI) và thông lệ quốc tế. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hạn chế hiệu lực, hiệu quả hoạt động kiểm toán trong những năm qua.

Vì những lý do trên đây, dự thảo sửa đổi Hiến pháp mới đã bổ sung thêm địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước (Điều 122) “1. Kiểm toán Nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công. 2. Tổng Kiểm toán Nhà nước là người đứng đầu Kiểm toán Nhà nước, do Quốc hội bầu. Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm toán Nhà nước do luật định. Tổng Kiểm toán Nhà nước chịu trách nhiệm và báo cáo kết quả kiểm toán, báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban thường vụ Quốc hội. 3. Tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Kiểm toán Nhà nước do luật định”.

VII- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Việc thừa nhận và đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường trong Hiến pháp năm 1992 đã tạo điều kiện cho nước ta thoát khỏi khủng hoảng, phát triển mạnh mẽ và chủ động hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, trước những bất cập của Hiến pháp năm 1992 về chế định kinh tế, việc sửa đổi Hiến pháp lần này, bên cạnh việc tiếp tục khẳng định và làm rõ vai trò “định hướng xã hội chủ nghĩa” đối với nền kinh tế, đã khẳng định: “Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật” (Điều 54 của dự thảo Hiến pháp mới). Điều 55 của dự thảo Hiến pháp mới nêu rõ nguyên tắc quản lý kinh tế của Nhà nước “1. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, bảo đảm cho nền kinh tế vận hành theo quy luật thị trường; thực hiện sự phân công, phân cấp quản lý nhà nước giữa các ngành, các cấp, thúc đẩy liên kết kinh tế vùng, bảo đảm phát triển hợp lý, hài hòa giữa các vùng, địa phương và tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân. 2. Nhà nước thống nhất quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại, phát triển các hình thức hợp tác kinh tế với các quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và cùng có lợi, phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế”.

Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cũng đã nêu rõ việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển nền kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế thông qua các chính sách cụ thể chứ không can thiệp sâu vào nền kinh tế… Tổ chức, cá nhân được tự do kinh doanh, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Nhà nước thực hiện chính sách chống độc quyền và bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh. Tài sản hợp pháp của tổ chức, cá nhân được Nhà nước thừa nhận, bảo hộ và không bị quốc hữu hóa. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân, tổ chức theo giá thị trường. Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định.

Hiến pháp là sự kết tinh trí tuệ của toàn dân tộc, vì vậy, mặc dù đã được chuẩn bị công phu, nhưng, dự thảo sửa đổi Hiến pháp vẫn cần có sự đóng góp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. (Luật gia THỊNH PHÚC).

--- CÂY SUNG DÂU ---


KỲ III - NHÀ NƯỚC VIỆT NAM LUÔN TÔN TRỌNG, BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO BÁO CHÍ, TỰ DO NGÔN LUẬN CỦA MỌI CÔNG DÂN


Trước hết cần khẳng định, với  bản phúc tiến "Chỉ số tự do báo chí 2013" công bố ngày 30-1, Tổ chức phóng viên không biên giới vẫn tiếp tục duy trì cái nhìn sai trái, cùng nhiều luận điệu có tính chất xuyên tạc, để từ đó  nhận xét xuyên tạc về tự do báo chí ở Việt Nam.

Cách làm việc của RSF rất vô trách nhiệm, họ không hề tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực tế tại Việt Nam; phớt lờ các thông tin và các số liệu chính thống, chỉ đưa ra một bảng khảo sát gồm 80 câu hỏi thuộc loại "trả lời sao cũng được", cóp nhặt tin tức một chiều, phiến diện, thậm chí bị bóp méo từ một số website, blog của các thế lực thù địch với Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, rồi phỏng vấn một số nhân vật vốn có định kiến cố hữu và cái nhìn thiếu thiện chí đối với Việt Nam, từ đó "xào nấu" lại thành một món hổ lốn rồi đưa vào cái gọi là "phúc trình thường niên". Với phương pháp điều tra, nghiên cứu phi khoa học và cực kỳ phiến diện như thế, liệu các báo cáo của RSF chắc chắn thiếu "khách quan, tin cậy" như RSF và các thành viên của nó vẫn lớn tiếng khẳng định.

Vậy sự thật sau những lời xuyên tạc và vu khống về Việt Nam của RSF là gì? Việt Nam - Một đất nước luôn đấu tranh để giành “độc lập – tự do – hạnh phúc” cho dân tộc; có Thủ đô từng được vinh danh là Thủ đô hòa bình có thực sự như những gì họ nói?

Sự thật là Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của mọi công dân; và cũng như các quốc gia khác, để giữ gìn kỷ cương và bảo đảm sự ổn định để phát triển, Nhà nước Việt Nam không cho phép lợi dụng những quyền này để tuyên truyền, kích động lật đổ chính quyền, phá hoại khối đoàn kết dân tộc.

Trên thực tế, Ðảng và Nhà nước Việt Nam luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến đóng góp của mọi tầng lớp nhân dân đối với việc xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật, thông qua các hình thức phản biện xã hội, qua hệ thống báo chí truyền thông. Nhân dân được tạo điều kiện thực hiện quyền phản biện thông qua đại diện của mình là MTTQ Việt Nam và các đoàn thể như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Ðoàn TNCS Hồ Chí Minh... Ðây là cầu nối giữa nhân dân với Ðảng và chính quyền các cấp, Mặt trận và các đoàn thể, một mặt tuyên truyền, phổ biến, động viên nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách, một mặt phát huy tính dân chủ xã hội, tạo cơ hội để nhân dân phản ánh nguyện vọng chính đáng của mình. Gần 17 nghìn nhà báo được cấp thẻ Nhà báo và hơn 19 nghìn hội viên Hội Nhà báo cùng cộng tác viên trên khắp cả nước là bộ phận xã hội hết sức quan trọng, thường xuyên bám sát thực tiễn cuộc sống, đi đầu trong đấu tranh phòng và chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, từ đó đề xuất, phản biện một cách khoa học về các chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Với những phóng sự điều tra, các bài bình luận, phân tích sắc sảo và thuyết phục, các bài tường thuật trực tiếp các phiên họp Quốc hội, ý kiến của cử tri cả nước, v.v. báo chí Việt Nam không chỉ tham gia vào sự phát triển tinh thần, vật chất của xã hội, mà trở thành cầu nối giữa người dân với cơ quan chức năng.

Báo chí Việt Nam thật sự là một kênh thông tin, phản biện xã hội rộng rãi, công khai, dân chủ, nhanh chóng, có hiệu quả.  Ðặc biệt là những ngày này, sau khi Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được công bố, toàn dân Việt Nam đã thảo luận rất sôi nổi, rất nhiều ý kiến đã được trình bày công khai để góp phần hoàn thiện Hiến pháp... Tất cả những sự thật ấy là bằng chứng cụ thể và xác thực, đủ sức chứng minh các đánh giá của RSF là quá lố bịch.

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013

Góp ý kiến vào “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” 


Đó là khẳng định của TS Lò Giàng Páo - Phó Viện trưởng Viện Dân tộc, Ủy ban Dân tộc trong cuộc trả lời phỏng vấn phóng viên (PV) Báo Công an nhân dân sáng 13/3, liên quan đến đợt lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992.  PV: Ông có thể cho biết qua nghiên cứu bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, điều gì làm ông cảm thấy tâm đắc nhất?  TS Lò Giàng Páo: Hiến pháp nước ta đã được sửa đổi nhiều lần qua các thời kỳ cách mạng dựng nước và giữ nước. Mỗi thời kỳ đều có những điều khoản và tôn chỉ mục đích phù hợp với từng giai đoạn cách mạng của đất nước. Tuy nhiên qua nghiên cứu bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tôi thấy tâm đắc nhất là chúng ta đã thực sự cởi mở, hết sức cầu thị tin tưởng ở quần chúng nhân dân, lắng nghe ý kiến góp ý của các tầng lớp nhân dân một cách rộng rãi không phân biệt đảng phái, tôn giáo, dân tộc mà trước đây chúng ta chưa làm được.  Tôi thấy nhân dân cũng rất phấn khởi và hào hứng, cởi mở góp ý một cách thoải mái, mang tính xây dựng, thiết thực từ cái chung đến cái riêng của đất nước và của các vùng, miền, từ vùng đồng bằng đến vùng miền núi, biên giới và vùng hải đảo xa xôi. Điều tôi tâm đắc nữa là Dự thảo Hiến pháp năm 1992 có thêm 12 điều mới liên quan đến các vấn đề quyền lực, đất đai, môi trường trong đó có vấn đề dân tộc được quyền xác định thành phần dân tộc. Đây là nhiệm vụ mà hiện nay Chính phủ đang giao cho Ủy ban Dân tộc thực hiện.  PV: Về vai trò lãnh đạo của Đảng được ghi trong Điều 4 Dự thảo Hiến pháp với đầy đủ cơ sở lý luận và thực tiễn. Quá trình tìm hiểu thực tế, ông thấy đồng bào các dân tộc có suy nghĩ gì về nội dung này?  TS Lò Giàng Páo: Đảng ta được thành lập từ năm 1930, suốt chặng đường lãnh đạo dân tộc để giành lại độc lập tự do cho nhân dân, thoát khỏi ách nô lệ của đế quốc, phong kiến, từng bước đưa nước ta phát triển và có vị thế trên trường quốc tế như ngày nay là một sự trưởng thành vượt bậc. Đó là điều hiển nhiên không ai có thể phủ nhận được. Kể từ năm 1946 đến năm 1992, đất nước ta đã có 4 bản Hiến pháp (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992). Một đặc điểm rất lớn của lịch sử lập hiến của nước ta là suốt thời gian lập hiến đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tuy nhiên trong quá trình lãnh đạo, tôi muốn nói một bộ phận cán bộ lãnh đạo là đảng viên do nhận thức không đầy đủ về vị trí vai trò của mình trong sự nghiệp phát triển của đất nước, không bảo vệ uy tín của Đảng, không kiềm chế được sự cám dỗ của cơ chế thị trường đã làm băng hoại nền tảng đạo đức cách mạng làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và mất niềm tin đối với nhân dân. Đây là điều vô cùng nguy hại cho đất nước, cần được chấn chỉnh ngay như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI đã đề ra.  Qua tìm hiểu thực tế, tôi thấy đồng bào các dân tộc luôn tin tưởng và ủng hộ vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước vì những vùng đồng bào sinh sống đều là những nơi Đảng chọn làm căn cứ cách mạng là những vùng phên dậu của đất nước. Họ là những người dân đã từng che chở cho Đảng tồn tại để hoạt động cách mạng là chỗ dựa của Đảng trong các cuộc kháng chiến cứu quốc. Tin tưởng và ủng hộ vai trò lãnh đạo của Đảng, đồng bào luôn muốn Đảng phát huy những gì Đảng đã nói và Đảng làm vì sự phát triển chung của đất nước, trong đó có sự phát triển đồng bộ về mọi mặt của đồng bào các dân tộc thiểu số.  PV: Theo ông dự thảo Hiến pháp cần bổ sung những vấn đề gì để định hướng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số?  TS Lò Giàng Páo: Theo tôi, trong Hiến pháp đã có rất nhiều điều phải bàn, song chúng ta phải nhớ rằng ở đây có cả cái chung và cái riêng với thực thể một đất nước đa dân tộc sống ở các vùng miền khác nhau, xuất phát điểm của mỗi tộc người cũng không giống nhau. Vấn đề là sự nhận thức một cách thấu đáo về các dân tộc, về kinh tế - xã hội, văn hóa, phong tục tập quán và đặc điểm tộc người. Trước tiên mọi người phải nhận thức vùng đất sinh sống của đồng bào các dân tộc là lãnh thổ của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các dân tộc ở những vùng này là những công dân Việt Nam, nên phải đầu tư phát triển đồng bộ, toàn diện hơn nữa cho những vùng này là thuộc trách nhiệm của Nhà nước và của toàn dân. Trong Hiến pháp cũng cần khẳng định rõ vai trò trách nhiệm của Nhà nước đối với việc phát triển kinh tế -  xã hội đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần với các chính sách phù hợp để phát triển bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Vùng đồng bào các dân tộc ngoài vấn đề đời sống còn liên quan đến chính trị, an ninh, quốc phòng và chủ quyền quốc gia với từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ!

Xuân Luận (thực hiện)

 

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Mrs. Nguyễn


Trên trang Xuân Việt Nam luôn luôn có các bài đăng với các tít rất giật gân, nào là “Công an, dân phòng Bình Thuận là côn đồ lưu manh ?”, “Đêm 30, dân oan ở vườn hoa Lý Tự Trọng bị cướp bạt che lều”,… và nội dung của các bài viết này chủ yếu tập trung vào việc nói lực lượng côn an đánh người, đàn áp người dân…. Vâng, không biết nội dung những bài viết này có thật không, nhưng mục đích của những người viết nhằm để kích động dân chúng, nói xấu về lực lượng vũ trang của nước ta thì rõ rành rành. Không chỉ thế, chúng còn ca ngợi cách sống, lối sống, điều kiện sống của các nước phương Tây, mà đặc biệt là Mỹ. Nhưng không biết chúng có nới về tình trạng cảnh sát Mỹ đánh người như cơm bữa không? Và thật không hiểu, tại sao cảnh sát Mỹ đánh người thì được nhưng cảnh sát Việt Nam chỉ cần vô tình xô xát với dân trong khi thi hành công vụ (dẹp các cuộc biểu tình trái phép, mất trật tự xã hội…) thì lập tức sẽ bị đưa tin, bêu xấu, kêu nước ta không có dân chủ, nhân quyền, không hiểu những người viết bài ấy hiểu như thế nào về dân chủ, về nhân quyền. Tôi xin lấy một vài ví dụ về việc cảnh sát Mỹ hành sự trong khi làm nhiệm vụ để các bạn đọc và so sánh với tình hình ở Việt Nam, để các bạn tự đánh giá xem cảnh sát nước ta có vi phạm hay không, hay chỉ là “từ con kiến mà biến thành củ khoai”, đặc biệt theo thống kê dưới đây thì số những người bị cảnh sát Mỹ hành hung, thậm chí giết chết chủ yếu là người Việt:


- Người dân bị hành hung, thậm chí hành hung đến chết, đập hội đồng đến chết, hoặc bắn chết v.v. là chuyện xảy ra rất nhiều lần ở Mỹ, xảy nhiều đến nỗi Mỹ là một trong những quốc gia trên thế giới mà cộng đồng mạng Wikipedia tiếng Anh có riêng cả một trang học thuật về tiêu cực này ở Hoa Kỳ. Trong số các nạn nhân của cảnh sát Mỹ có rất nhiều người Việt, đặc biệt ở Cali và Texas.


- Nếu như những tai tiếng của bộ máy công quyền Mỹ về cô gái Việt ở San Francisco bị 4 tên cảnh sát bắn chết vì lý do cô ta đang cầm dao để gọt cam ăn, hay vụ thanh niên Việt ở San Diego bị 2 tên cảnh sát trong xe lái cán chết vì lý do say rượu bỏ chạy, hay những người Việt bị cảnh sát nắm tóc đập bể nát cửa kính xe của họ ở Houston, TX v.v. hay đa số các trường hợp khác v.v. thì đó đều chỉ có cảnh sát và nạn nhân ở hiện trường. Còn trong vụ mới xảy ra này, cảnh sát đánh đập và siết cổ chết nạn nhân ngay trước mắt ba và người em gái của nạn nhân. Mà báo cáo chính thức cho truyền thông của cảnh sát lại khác biệt hoàn toàn một trời một một vực với những gì nhân chứng, người nhà kể lại. Mặc dù những vụ che giấu sự thật này thấy rất nhiều trong hệ thống chính phủ và cảnh sát Mỹ nhưng ngay cả khi có nhân chứng rành rành mà còn che giấu sự thật thì càng cho thấy cảnh sát Mỹ lộng hành tới mức nào, không coi ai ra gì.


- Trong cộng đồng người Việt tại Mỹ, có rất nhiều người tin tưởng, thậm chí tôn thờ chính phủ Mỹ, coi cảnh sát Mỹ thật sự là nhân viên phục vụ cho họ, nhất là từ những người trẻ sinh ra hoặc lớn lên trên đất Mỹ, do đó nhiều người gọi 911 cho cảnh sát tới vì những chuyện rất nhỏ, và họ đã phải trả giá cho lòng tin ngây thơ, ngốc nghếch của mình. Như cô gái gọt cam ở San Francisco gọi cảnh sát tới hay cô em gái ở video clip trên gọi cảnh sát tới để giúp đỡ anh mình, vì tin tưởng và tôn thờ mù quáng vào hệ thống công quyền của Mỹ mà đã trả giá. Đây là bài học rút ra cho người Việt chúng ta ở Mỹ…


    Trên đây là một thống kê nho nhỏ nhưng cũng đủ thấy cái dân củ, cái nhân quyền của mà họ nói nó như thế nào, lúc nào cũng kêu gọi dân chủ, nhân quyền nhưng thực tế thì có hay không, hay chỉ cần người dân “hở” ra là lập tức bị hành hung ngay, nhất là những người Việt trên đất Mỹ, cách đối sử của họ với người Việt cũng khác so với những người nước khác vì sự thất bại của họ trong chiến tranh trên đất nước Việt Nam sẽ không bao giờ họ quên đi, tất cả nhữn gì họ nói và làm với người Việt Nam, dù “mật ngọt” tới đâu thì mục đích cũng không tốt đẹp như bạn nghĩ, nên hãy cẩn trọng vì họ không nói trực tiếp với bạn mà đội ngũ “tay sai” của họ sẽ nói với bạn, nên các bạn hãy đề phòng và cẩn thận để tự bảo vệ mình.



(Dân trí) - Vào ngày này cách đây 25 năm (14/3/1988), Trung Quốc đã ngang nhiên chiếm đảo Gạc Ma, sát hại 64 người con của Tổ quốc đang canh giữ đất đai tổ tiên. Nỗi đau vẫn còn đó. Việc bảo vệ lãnh thổ quốc gia và tinh thần độc lập dân tộc luôn là tối thượng…
 >>  Cùng nhau thức tỉnh để giữ nước
 >>  25 năm hải chiến Trường Sa: Khúc bi tráng trên đảo Gạc Ma
 >>  Sách in cờ Trung Quốc: Sẽ tiêu hủy toàn bộ sách đã phát hành



 

Gần đây, một loạt các cơ quan, doanh nghiệp đã mắc sai lầm nghiêm trọng trong việc in ấn và quảng bá sản phẩm vi phạm qui định của Nhà nước Việt Nam.

Quả cầu của VietinBank Ninh Bình không có hình quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

Lô gô bản đồ Việt Nam quảng cáo sản phẩm thời trang thương hiệu motviet được bày bán tại siêu thị BigC Thăng Long không có chủ quyền vùng biển quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sách của NXB Sư phạm, NXB Mỹ thuật…  in cờ Trung Quốc cắm trên cổng trường và ở phần tập đánh vần chữ “cờ”.

Thậm chí, bộ sách "Tiếng Hoa dành cho trẻ em" của Nhà xuất bản (NXB) Tổng hợp TP.HCM bài học 14, trang số 35 còn in cả hình đường lưỡi bò.

Nghiêm trọng hơn, gian trưng bày triển lãm tại Hội chợ du lịch quốc tế ITB 2013 diễn ra ở Berlin, CHLB Đức còn quảng bá hình ảnh cho nước láng giềng Trung Quốc.

Tất cả những sơ xuất trên đều không thể chấp nhận, đều rất đáng trách bởi nó không chỉ thể hiện sự lơ là, cẩu thả mà còn là biểu hiện ý thức đối với giang sơn đất nước. Nhất là ở giai đoạn hiện nay, khi Trung Quốc đang ngày đêm dùng mọi biện pháp, từ những hành động nhỏ nhất hòng xâm lấn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam chúng ta thì sự tắc trách trên là đáng lên án.

Đặc biệt là trong các lĩnh vực nhạy cảm, có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều người, nhiều thế hệ như các sách của những NXB trên.

Tuy không giống như các NXB trên, song trường hợp gian hàng của Tổng cục Du lịch cũng rất đáng lên án. Lý do thứ nhất, đoàn do ông Tổng Cục trưởng Nguyễn Văn Tuấn, một trong những lãnh đạo cao cấp của Bộ VH-TT&DL làm trưởng đoàn. Thứ hai, sự việc xảy ra trên trường quốc tế, nơi có năm châu bốn biển nhìn vào.

Đây không thể coi là những sơ xuất bình thường nên cần có những biện phám xử lý nghiêm khắc bởi lãnh thổ quốc gia và tinh thần độc lập dân tộc luôn là tối thượng.

Vì vậy, những việc làm tắc trách trên đáng bị lên án.

 


Bùi Hoàng Tám


 


BLOG rất mong nhận được bình luận của các bạn xung quanh các đề tài mà chúng ta cùng quan tâm. Xin hãy bấm vào link GỬI BÌNH LUẬN phía dưới bài, viết ý kiến của mình, rồi nhấn phím ĐỒNG Ý. Sau đó, điền thông tin theo một trong hai cách mà hệ thống hướng dẫn. Mọi ý kiến của các bạn đều được chúng tôi đón đợi và quan tâm.

Cám ơn các bạn!

--- CÂY SUNG DÂU ---


Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, một thực thể xã hội và là một sản phẩm lịch sử do con người tạo ra. Tầm ảnh hưởng của tôn giáo đến chính trị, văn hóa, xã hội đã thể hiện rõ nét trong lịch sử và tiếp tục được khẳng định trong xã hội đương đại. Ở nước ta, tín ngưỡng và tôn giáo có vị trí quan trọng trong đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần của xã hội. Tín ngưỡng và tôn giáo gắn bó lâu dài với dân tộc và phục vụ lợi ích dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.


Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Hiện nước ta có 12 tôn giáo và 32 tổ chức tôn giáo đang hoạt động. Ngoài ra, ở Việt Nam còn có nhiều loại hình tín ngưỡng khác nhau như thờ cũng Tổ tiên, thờ thần, thờ các vị anh hùng dân tộc, thờ các vị tổ nghề,… Nhìn chung, các tín ngưỡng, tôn giáo khá phù hợp với mục đích xây dựng xã hội mới ở nước ta hiện nay; những giá trị đạo đức của tôn giáo tương đồng với đạo đức con người Việt Nam; cộng đồng các tôn giáo luôn đoàn kết, đồng hành và phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc theo tinh thần “sống tốt đời đẹp đạo”, “đạo pháp – dân tộc – chủ nghĩa xã hội”. Nhận thức vị trí, vai trò của tôn giáo trong giai đoạn hiện  nay, Đảng ta đã khẳng định: đạo đức tôn giáo có nhiều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới và xác định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các dân tộc tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc.


Tuy nhiên vấn đề tôn giáo ở Việt Nam luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng. Các thế lực luôn tìm cách lôi kéo các vị chức sắc, những người có uy tín, ảnh hưởng lớn trong cộng đồng giáo dân của họ vào các hoạt động chính trị đen tối chống lại Nhà nước Việt Nam. Đồng thời, tôn giáo còn bị lợi dụng vào các hoạt động “buôn thần, bán thánh” đầu cơ trục lợi (cả về trục lợi chính trị). Do đó, một mặt Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo pháp luật trong nước và những quy định quốc tế, mặt khác còn chủ động phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.


Phương châm của Đảng và Nhà nước ta là lấy phòng ngừa là chính. Trong phòng ngừa thể hiện những việc làm cụ thể sau:


Thứ nhất, từng bước hoàn thiện luật pháp về tôn giáo bởi Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền, điều hành đất nước bằng luật pháp. Luật pháp càng hoàn thiện thì càng tránh xảy ra những điều bất hợp lý từ cuộc sống tôn giáo.


Thứ hai, nắm bắt kịp thời những diễn biến về đời sống tôn giáo, qua đó bổ sung, điều chỉnh hoặc ban hành những văn bản mới về luật pháp tôn giáo để luật pháp bám sát thực tiễn, đặc biệt là đi vào thực tiễn với hiệu quả cao.


Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi cho tôn giáo hoạt động bình thường theo luật pháp. Khi có vấn đề bức xúc xảy ra ở cơ sở, kịp thời nghiên cứu, tìm hiểu để rồi từ đó tháo gỡ qua các văn bản luật pháp cũng như những việc làm cụ thể. Khi những nhu cầu bức xúc được tháo gỡ thì sẽ không còn điểm nóng tôn giáo, tín đồ được giải quyết nguyện vọng kịp thời sẽ tin tưởng vào đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời cũng không còn đất “dụng võ” cho các thế lực lợi dụng tôn giáo trong và ngoài nước.


Mặt khác, trong bối cảnh đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế, trên cơ sở đổi mới quan điểm, nhận thức, đường lối, Nhà nước cũng đã có những bước chuyển đổi quan trọng trong việc ban hành chính sách đối với tôn giáo. Chính sách ấy luôn bám sát thực tế, bám sát những vấn đề đặt ra trong cuộc sống dân tộc, đồng thời bám sát luật pháp quốc tế, nhất là quyền con người trên lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Cho nên, luật pháp về tôn giáo ngày càng nhận được sự đồng tình, ủng hộ của đông đảo đồng bào các tôn giáo. Đồng bào theo tôn giáo ngày càng tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tích cực tham gia phong trào cách mạng theo hướng “sống tốt đời đẹp đạo”, “Nước vinh, Đạo sáng”.



Thứ Năm, 14 tháng 3, 2013

--- CÂY SUNG DÂU ---                            



[caption id="" align="aligncenter" width="276"]Chủ tịch Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh[/caption]


Thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay ra đời và lớn lên trong một đất nước giàu truyền thống cách mạng và được sống trong khung cảnh hòa bình của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng ta may mắn và tự hào được hưởng hạnh phúc to lớn mà ông cha ta từ hàng ngàn năm nay đã đánh đổi bằng xương máu: độc lập - tự do và chủ nghĩa xã hội. Chính Đảng và Bác Hồ kính yêu là người mang lại cho chúng ta hạnh phúc ấy. Cả cuộc đời mình, vị cha già của dân tộc đã mang hết tâm sức dìu dắt dân tộc ta đấu tranh giành quyền sống, quyền tự do.

Trong di chúc Bác đã viết: “đoàn viên và thanh niên nói chung là tốt, mọi việc đều hang hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Ngày nay, lớp thanh niên chúng ta, hẳn không ai là không thấm sâu hình ảnh Bác Hồ, không ai là không ghi lòng tạc dạ những lời dạy bảo ân cần của Người. Hình ảnh Người đã trở thành ngọn đuốc soi sáng con đường của thanh niên: “sống, chiến đấu, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” không chỉ là khẩu hiệu mà còn là phương châm sống, hành động của chúng ta, đó là tâm niệm sâu sắc của thanh niên chúng ta hiện nay.

Cuộc sống của Người là tấm gương sáng cho thanh niên chúng ta noi theo, mà trước hết là ý thức và tinh thần hang say lao động. Chính Bác là một tấm gương sáng trong lao động, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn tham gia lao động. Nó vừa giúp ta khỏe mạnh, lại cho ta thêm yêu quý sức lực, thành quả không chỉ của mình mà còn của những người đang hàng ngày hàng giờ miệt mài lao động. Trong lao động Người không hề phân biệt lao động chí óc hay lao động tay chân, đó là điều mà chúng ta học được từ Người. Thực tế có một bộ phận thanh niên có suy nghĩ sai lầm về vấn đề này: họ coi rẻ lao động chân tay mà trọng lao động trí óc “sạch sẽ”, “thanh cao”, hay một số chỉ thích lao động chân tay mà lười lao động chí óc. Tinh thần lao động như thế trái hẳn với tư tưởng, quan điểm về lao động của Hồ Chủ Tịch. Đất nước ta đang trên đà phát triển nhưng so với thế giới thì vẫn chưa thể sánh bằng, vì vậy vấn đề cốt tử hiện nay là phải làm thế nào để nâng cao năng suất lao động, tiến nhanh hơn, bền vững hơn lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chủ Tịch là hiện thân của tinh thần lao động với năng suất cao, có kế hoạch, có kỹ thuật. Vấn đề đó gợi cho thanh niên ta rất nhiều suy nghĩ, bởi thanh niên là lực lượng rất quan trọng trong cuộc cách mạng kỹ thuật. Hơn nữa, lao động là một truyền thống quý báu của dân tộc ta, thanh niên ta lao động theo Hồ Chủ Tịch chính là viết tiếp những trang sử vẻ vang, tô đậm thêm lịch sử hào hùng của dân tộc.

Bác không chỉ dạy cho thanh niên lao động sao cho giỏi, mà còn dạy cho thanh niên học tập sao cho đúng. Sinh thời, Người luôn đề cao tính sáng tạo, ham học hỏi, Người nói: “…phải nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng. Đọc tài liệu thì cần phải đào sâu, hiểu kỹ, không tin một cách mù quang từng câu trong một sách, có vấn đề chưa thông suốt thì phải mạnh dạn để hỏi và thảo luận cho vỡ lẽ”. Và ngay từ nhỏ, Người đã học tập với tinh thần như thế. Môn học gì Người cũng hỏi thầy giáo một cách cặn kẽ. Nếu thầy trả lời chưa rõ, Người tiếp tục hỏi nữa, hỏi đến lúc hiểu thấu đáo mới thôi. Thế mới gọi là “học hỏi”. Không chỉ hỏi để hiểu, đối với những điều sách vở sai với thực tế, không hợp logic Người cũng luôn mạnh dạn đặt vấn đề với thầy giáo, chứ không hề tiếp cận một cách máy móc. Người đã từng hỏi thầy Phan Hoàng Quỳnh: “Sách bảo làm điều lành thì được trả điều lành, làm điều các tất phải chịu điều ác, nếu chưa thấy vậy là do thời gian chưa đến. Thế nhưng người làm điều lành cứ  ngồi mà đợi, thì biết bao giờ mới nhận được điều lanh?” Câu hỏi đã không làm thầy Phan Hoàng Quỳnh bực mình, mà trái lại, khiến thầy thêm phấn khởi vì có được người học trò thông minh, biết suy nghĩ.

Đối với Người, sự hiểu biết không dừng ở mức độ nào cả. Cho nên khi hoạt đôbgj cách mạng ở nước ngoài, Người đã chăm chỉ học ngoại ngữ, đã nói viết thành thạo nhiều thứ tiếng. Trường học của Bác ở khắp mọi nơi, trong lớp học, trong phòng làm việc, trên đường đi công tác, có khi cả ở trong bếp. Đối với Người, học ở trong sách thôi còn chư đủ, còn phải học từ bạn bè, từ nhân dân… học có phương pháp, có hiệu quả. Có thể nói Người là một tấm gương sáng thể hiện tinh thần của Lênin: “Học, học nữa, học mãi”. Qua việc học tập của Bác ta rút ra một điều rằng, không chỉ vào đại học mới có điều kiện học tập. Tấm gương của Người nhắc nhở chúng ta – lớp thanh niên không được chủ quan, sớm thỏa mãn, có thái độ hưởng thụ sớm. Phải biết vốn kiến thức của mình là chỉ là một phần nhỏ bé vô cùng so với kiến thức vĩ đại của nhân loại. Do đó, càng phải hang say học tập hơn nữa: “sống, chiến đấu, lao động, học tập” là bốn mặt của cuộc sống liên quan mật thiết với nhau, không thể thiếu một mặt nào.

Càng tìm hiểu về cuộc đời Bác, dường như chúng ta, nhất là thanh niên thế hệ trẻ như tìm thấy được vốn quý nhất của cuộc sống, lí tưởng cách mạng, tinh thần lao động, tinh thần học tập, lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước. Và chính Bác là lẽ sống của thanh niên ta ngày nay, là ngọn đuốc soi đường cho thế hệ trẻ Việt Nam.

 



TAM GIANG


Tổ quốc nơi biên thùy

(Tưởng nhớ những chiến sĩ hy sinh ở biên giới năm 1979)



Mùa này biên giới hoa sim
Tím quanh mộ chí im lìm các anh
Bao người lính trận vô danh
Hiến dâng đất nước tuổi xanh của mình

Lặng thinh không thể lặng thinh
Trước bao xương máu hy sinh giống nòi
Quên ư! Không lẽ quên rồi?
Đường lên biên giới một trời hoa sim
Màu hoa chẳng chịu lặng im
Lẫn vào sỏi đá thắp nghìn nén hương

Mùa này biên giới đầy sương
Có ai trở lại chiến trường về thăm
Vị Xuyên, Phong Thổ, Đồng Đăng
Các anh ngã xuống trẻ măng thuở nào

Các anh nằm dọc chiến hào
Từng cây số máu trên cao nguyên này
Trong tầm lựu đạn ném tay
Trong khe ngắm của những cây súng thù

Hòa An mây núi âm u
Đường lên Bản Giốc mịt mù còn nghe
Các con dưới cỏ xanh rì
Chỉ thương tóc mẹ bạc về trắng đêm
Các con như cỏ hồn nhiên
Xanh thăm thẳm mọc dọc miền bao la

Ta là con của phù sa
Cha là đất nước. Mẹ là quê hương
Còn nghe máu thấm biên cương
Mây buồn Lũng Cú. Đêm trường Nam Quan
Ta là con của Việt Nam
Theo cha xuống biển tự ngàn năm xưa
Lên rừng thờ mẹ Âu Cơ
Đem xương máu dựng cõi bờ hôm nay

                                                 17.2.2013 

                                           Nguyễn Việt Chiến



Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng

Đọc báo Thanh niên những bài báo đầu xuân, tôi bất chợt bắt gặp bài thơ “Tổ Quốc nơi biên thùy” của anh - Nguyễn Việt Chiến – một cái tên tôi nghe mà ngờ ngợ, vừa quen vừa lạ, hình như đã gặp anh trong bài thơ nào đấy.
Đọc bài thơ một lần, hai lần, rồi đọc cả đêm, tôi mới nhận ra tâm hồn của người của người cựu chiến binh trên mặt trận Biên giới phía Bắc năm 1979. Bài thơ là nén nhang lòng của anh tưởng nhớ những đồng đội hy sinh để bảo vệ biên cương Tổ quốc.

Bài thơ là cả một không gian rộng lớn đầy mù sương, sắc tím của miền biên ải, tiếng thở dài nhớ tiếc người xưa.

Tây bắc, Đông Bắc một dãi từ Móng Cái, Đông Triều đến tận Phong Thổ rợp trời một màu sắc tím:

      “Mùa này biên giới hoa sim
        Tím quanh mộ chí im lìm các anh”

Và...

   “Đường lên biên giới một trời hoa sim
Màu hoa chẳng chịu lặng im
Lẫn vào sỏi đá thắp nghìn nén hương”


          Chao ôi, cả vùng núi rừng trùng trùng điệp điệp bạt ngàn một loài cây hoa tím, loài cây mọc hoang dại mà nở hoa màu dịu hiền - hoa sim - màu tím gợi buồn man mát một không gian buồn của lòng người khi nhớ người thân, đồng đội cùng chung tuyến lửa, sống chết có nhau. Sóng lòng của người, con song dồn lên lớp lớp, nghẹn ngào như rừng hoa sim tím ngát rung rinh trước gió biên cương, trước anh linh người khuất:

“Màu hoa chẳng chịu lặng im
Lẫn vào sỏi đá thắp nghìn nén hương”

          Nghìn nén hương thắp lên sáng rực chiều biên giới. Buồn man mát, một cảm giác thương tiếc, không ngoai trong lòng; Nhạc lòng lại nổi lên hòa lời ca của bài hát “Nếu anh tới biên giới sẽ được thấy loài hoa, hoa sim”. Đúng thật, biên giới có lau thì cảnh hùng vĩ, biên giới có sắc tím sim thì nên thơ mà đượm buồn da diết.

          Trời đất biên cương nơi địa đầu Tổ quốc, “nơi con song Hồng chảy vào đất Việt” còn thấm lẫn mù sương: “Mùa này biên giới đầy sương”

          Ơi miền núi cao, sương trắng len lõi khắp nơi, sương quấn lấy người chiến sĩ, quấn lấy cây súng trên tay người lính gác, phả hơi lạnh, buốt sương của miền Bắc Bộ. Một thứ sương lạnh chết người, sương dày đặt, lạnh tê tái da thịt chứ chẳng phải thứ sương lãng mạn ở ngõ Tam Thương

                   “Sương dăng mờ trên ngõ Tam Thương”

(Chế Lan Viên – Chơi chữ về ngõ Tam Thương)




Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979

          Miền biên cương năm ấy đẫm máu quân thù, đẫm máu các anh. Các anh, tuổi đời mười tám, hai mươi xung phong trận mạc, trước tên bay lửa đạn, trước nồng sung quân thù

“Vị Xuyên, Phong Thổ, Đồng Đăng
Các anh ngã xuống trẻ măng thuở nào”

          Giặc giữ hung tàn, tràn san theo đúng con đường nghìn năm chúng sang bờ cõi nước ta, mỗi tấc đất, chiến hào mỗi trận địa là biết bao máu các anh tô thắm, không ngừng ngại ra đi cho lá cờ vẫn đỏ tươi trong nắng mới

“Các anh nằm dọc chiến hào
Từng cây số máu trên cao nguyên này
Trong tầm lựu đạn ném tay
Trong khe ngắm của những cây súng thù”

          Tổ quốc gọi các anh lên đường ra mặt trận, một thế hệ xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, một thế hệ làm nên những anh hùng

“Bao người lính trận vô danh
Hiến dâng đất nước tuổi xanh của mình”

Đọc đến đây, tôi nghĩ những năm tháng anh Nguyễn Việt Chiến và đồng đội của anh trên mặt trận cũng giống như một thời hoa lửa của Nguyễn Văn Thạc, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Viết Xuân, Lê Mã Lương những con người vứt bỏ cuộc sống hòa bình, tuổi trẻ mà lao vào miền khói lửa nhắm thẳng quân thù mà bắn, “cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến diệt thù” các anh, các chị trẻ quá – những bông hoa màu đỏ “Mãi mãi tuổi hai mươi” nở trên xác thù, là cỏ non xanh mơn mởn trên núi đồi biên cương.



Các con ra đi, đoàn quân kéo đuôi nhau, rộn ràng ra mặt trận, vui như ngày hội, ngày hội của những anh hùng thời đại Hồ Chí Minh

                   “Người ra đi đầu không ngoảnh lại

Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”


chỉ  có lòng mẹ, tâm cha mới thấu hiểu chiến trường là gì ba mươi năm đau từng khúc một vì mất người thân

“Hòa An mây núi âm u
Đường lên Bản Giốc mịt mù còn nghe
Các con dưới cỏ xanh rì
Chỉ thương tóc mẹ bạc về trắng đêm
Các con như cỏ hồn nhiên
Xanh thăm thẳm mọc dọc miền bao la”

Những nấm mồ vô danh nơi rừng sâu, vách đá làm mẹ ta nhói lòng. Tôi từng đến nhiều nghĩa trang liệt sĩ và từng bắt gặp hình ảnh người mẹ lặng đứng trước hàng quân bia liệt sĩ, trước nấm mồ khắc tên con mà lòng lặng yên, không nói, mẹ vẫn biết con mẹ mười tám tuổi, vẫn cười đùa, hồn nhiên ngay cả dưới mưa bom, chỉ khói hương làm mẹ nhớ về con và ôm con vào lòng, mẹ thắt đau khi nhận giấy báo tử con hy sinh mùa đông năm 1979.

          Buồn, đau. Cả dân tộc này đã buồn đau và còn hơn thế đã suốt từ mấy nghìn năm nay rồi. Buồn đau phải đứng dậy vứt bỏ buồn đau. Đất nước, quê hương, làng mạc, họ hàng, gia đình, sân đình, mảnh đất cày trồng lúa khoai là tất cả của tổ tiên dân Việt. Đất nước là máu xương, là ruột thịt, phải đánh trả và giành lấy mỗi tấc đất mà cha ông nghìn đời lấy máu mà có được

“Ta là con của phù sa
Cha là đất nước. Mẹ là quê hương
Còn nghe máu thấm biên cương
Mây buồn Lũng Cú. Đêm trường Nam Quan
Ta là con của Việt Nam
Theo cha xuống biển tự ngàn năm xưa
Lên rừng thờ mẹ Âu Cơ
Đem xương máu dựng cõi bờ hôm nay”

          Chặt đầu Liễu Thông, băm thay quân Mông Cổ, dìm chết Thoát Hoan cũng trên trận địa này đây, cũng chính tay con Lạc cháu Hồng. Nghìn năm, vạn năm chung bay cũng không lấy được tấc đất quý hơn vàng của dân tộc Việt Nam.

"Đánh cho để dài tóc

Đánh cho để đen răng

Đánh cho nó chích luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ"

          Thời gian trôi qua, màu mực đã phai, giấy báo có thể cũ nhưng trong lòng tôi, lòng người đọc vẫn nhớ về anh Nguyễn Việt Tiến, về bài thơ xúc động – nén nhang thơm cho hương hồn các anh hùng liệt sĩ, cho thế hệ những anh hùng vì độc lập dân tộc cho nhân dân vui đời say hạnh phúc.

          Xin hát mãi về các anh.




Thứ Tư, 13 tháng 3, 2013

--- CÂY SUNG DÂU ---


Xung quanh một số ý kiến, kiến nghị và nhất là động cơ, mục đích của một số người về vai trò, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nói chung và Quân đội Nhân dân Việt Nam nói riêng trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.


Hiến pháp 1992 của nước CHXHCN Việt Nam, Nghị quyết số 51 – NQ/TW của Bộ Chính trị, cũng như Nghị quyết 513 – NQ/ĐUQSTW, Nghị quyết 520 - NQ/QUTW, Nghị quyết 623 - NQ/QUTW của Thường vụ Quân uỷ Trung ương… đã khẳng định rõ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân nhằm xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam được thực hiện thông qua hệ thống tổ chức đảng, hệ thống tổ chức chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và tổ chức quần chúng ở đơn vị cơ sở. Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối và quyết định các vấn đề liên quan đến chiến lược bảo vệ Tổ quốc, thông qua các tổ chức Đảng giữ vai trò lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị trong các hoạt động quốc phòng.


Điều 4 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.


Việc quy định Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán để khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng, mà còn là một nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thể chế chính trị - xã hội mà Việt Nam đã lựa chọn. Và không nằm ngoài khuôn khổ đó, Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là lực lượng trung thành với Đảng, là lực lượng do Đảng xây dựng, lãnh đạo và giáo dục.


Lịch sử hình thành Quân đội Nhân dân Việt Nam là những trang vàng chói lọi. Trên cơ sở những cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại, quân đội ta từ một lực lượng nhỏ bé, vũ khí trang bị thô sơ đã vươn lên thành một đội quân hùng hậu, chính quy, hiện đại, gắn bó với nhân dân, tô đậm truyền thống vẻ vang mà Bác Hồ - người cha của các lực lượng võ trang Việt Nam - đã dạy: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.


Vậy mà nay, trong quá trình góp ý kiến cho bản Dự thảo Hiến pháp, một số người không hiểu do nhận thức ấu trĩ hay vì động cơ vụ lợi chính trị, đã cổ vũ cho việc lực lượng vũ trang đứng ngoài chính trị. Những quan điểm sai trái, những luận điệu phản động được họ soạn thảo thành những tài liệu xấu mạo danh, nặc danh, thậm chí họ còn soạn ra hẳn một dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khác với Bản dự thảo Hiến pháp duy nhất do Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Quốc hội công bố tổ chức lấy ý kiến nhân dân… phát tán trên internet nhằm kích động, lôi kéo người dân; lợi dụng việc đóng góp vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước. Nội dung mà họ tập trung là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (đòi bỏ Điều 4 trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp); “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, họ cho rằng: “lực lượng vũ trang phải trung lập”; lực lượng vũ trang chỉ trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam hay với bất kỳ tổ chức nào…


Đó là những luận điểm hết sức sai trái và không thể chấp nhận. Thực tế đòi hỏi các cơ quan chức năng cùng với việc quan tâm tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân nghiên cứu; thể hiện rõ quan điểm, thái độ, ý kiến đồng tình hay không đồng tình của mình đối với từng điều khoản trong dự thảo, cần đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền cung cấp cho người dân đầy đủ thông tin, định hướng để người dân hiểu đúng mục đích, ý nghĩa của công việc hệ trọng này, giúp người dân nâng cao tinh thần cảnh giác, phát hiện, đấu tranh kịp thời với mọi tư tưởng, quan điểm sai trái, không vì mục đích xây dựng đại cục mà theo đuổi động cơ, mục đích cá nhân để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trong việc tổng hợp và ghi nhận các ý kiến đóng góp của các tập thể, cá nhân, các cơ quan chức năng cần có sự nhìn nhận, đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, tuyệt đối không để kẻ xấu lợi dụng việc góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để thực hiện các mục đích cá nhân, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đồng thời, các lực lượng chức năng cần có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành động tán phát tài liệu xấu, mạo danh, nặc danh, lợi dụng việc lấy ý kiến nhân dân vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp để xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.


Trong lịch sử thế giới, dù một quốc gia với thể chế này hay thể chế kia, thì quân đội cũng được đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và thống nhất của đảng cầm quyền. Với Việt Nam, một khi lợi ích của Đảng song trùng với lợi ích của đất nước, của nhân dân, thì quân đội phục vụ nhân dân, đất nước hay phục vụ Đảng, về bản chất cũng chỉ là một mục đích duy nhất đúng đắn và duy nhất tối thượng.



Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Nổi bật trong tuần

Bài đăng nổi bật

Đọc thêm