Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Bài học lịch sử :


Lịch sử chiến tranh và quân đội đã chứng minh và khẳng định: Quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy của quân đội phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội. Không có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị. V. I. Lê-nin đã chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản..., bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động” (1).

Năm 1991, Quân đội Liên Xô có một lực lượng hùng hâu với 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị vũ khí hiện đại bậc nhất, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược… Vậy nguyên nhân nào dẫn đến sự tan rã của Liên bang Xô-viết một cách chóng vánh ?

Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ nước Cộng hòa Xô Viết còn non trẻ, V.I.Lê-nin đã rất quan tâm xây dựng Hồng quân vững mạnh làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, trong đó Người đặc biệt chú trọng việc Đảng Cộng sản nắm vững quyền lãnh đạo với quân đội, coi đólà nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhờ kiên định nguyên tắc đó, Hồng quân và nước Cộng hòa Xô Viết đã vượt qua những thử thách vô cùng khó khăn của thời kỳ nội chiến chống các thế lực phản cách mạng cùng sự can thiệp của 14 nước đế quốc, tiếp tục vượt qua những gian nguy to lớn trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, làm nên những chiến thắng to lớn, một lần nữa khẳng định sức mạnh của quân đội kiểu mới, tác động rất lớn đến cách mạng thế giới.

Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối, nhất là từ khi ông M.Gooc-ba-chop làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (1985-1991), những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chiến lược, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho quân đội bị «phi chính trị hóa và bị vô hiệu hóa «. Như vậy, chỉ trong khoảng hai năm từ năm 1987-1989, gần 50% cán bộ cơ quan chiến lược của quân đội và khoảng 30% tướng lĩnh bị cho ra quân, trên 100 cán bộ lãnh đạo chính trị cấp chiến dịch-chiến lược bị cách chức với lý do «tư tưởng bảo thủ, yếu kém, không ủng hộ cải tổ «… Đó là nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết vào cuối năm 1991.

Bản chất cái gọi là “quốc gia hóa quân đội” ở Việt Nam

Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thực tiễn gần 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã chứng minh và khẳng định: Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc quan trọng hàng đầu, bảo đảm cho quân đội ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc XHCN và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch tăng cường những âm mưu, thủ đoạn nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, tập trung bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, kích động khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của chỉ huy, hạ thấp vai trò của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong quân đội.

Thực chất của quan điểm “quốc gia hóa quân đội” là đòi quân đội phải trung lập, “phi đảng hóa”, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho quân đội mất định hướng chính trị, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy bị suy yếu, bị tha hóa biến chất và mất sức chiến đấu; đồng thời làm cho Đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền, đưa đất nước lâm vào tình trạng mất ổn định và suy thoái. Trong khi truyền bá quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối và nguyên tắc xây dựng quân đội của Đảng ta, bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thúc đẩy khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của người chỉ huy, hạ thấp vai trò và tiến tới bãi bỏ hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Có thể nói, quan điểm đòi “quốc gia hóa quân đội” của các thế lực thù địch rất hiểm độc, tập trung công kích thẳng vào một đặc trưng bản chất có ý nghĩa sống còn của quân đội kiểu mới.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, rút kinh nghiệm từ bài học từ lịch sử:

Trước những thách thức trên, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong thời kỳ mới, trước hết chúng ta cần tập trung cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, hệ thống định chế và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới; kiên quyết khắc phục nếp nghĩ “nuôi quân ba năm dùng một giờ”, coi việc xây dựng quân đội chỉ để dùng trong chiến tranh và lo đối phó với chiến tranh.

Cần thấy rõ sự thống nhất nhưng không đồng nhất trong cơ chế lãnh đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước đối với QĐND Việt Nam và Bộ Quốc phòng, trong đó đáng chú ý là cơ chế lãnh đạo, điều hành đối với Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị khác với các cơ quan Bộ Quốc phòng.

Cần phát triển và vận hành thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả các yếu tố hợp thành cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đảng thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội thông qua hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở cơ sở. Do đó, cần tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, chú trọng cấp ủy đảng ở cơ sở và cơ quan tham mưu chiến dịch – chiến lược; tập trung nâng cao năng lực quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết, chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ.

Cùng với đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có chiều sâu và độ bền vững, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, nhất là việc chấp hành nghị quyết và Điều lệ Đảng, chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chế độ công tác, quy chế và quy trình làm việc trên các lĩnh vực hệ trọng, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực.

Mặt khác, cần chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ huy và cơ quan chỉ huy tham mưu có tính đảng cao và bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn tốt, nắm vững và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, nội dung, quy trình và chế độ công tác chỉ huy tham mưu đồng thời am hiểu CTĐ, CTCT trong quân đội, có phương pháp, tác phong làm việc khoa học đáp ứng chức trách, nhiệm vụ được giao, thực sự là những “chỉ huy đỏ” gương mẫu, trung thành và tin cậy của Đảng.

-----* Cây Sung Dâu *-----

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Nổi bật trong tuần

Bài đăng nổi bật

Đọc thêm