Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

Hải An

Cùng với tiến trình đổi mới toàn diện đất nước, nền báo chí Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Thế nhưng, xuất phát từ dụng ý xấu, hiện vẫn có những thế lực cho rằng: ở Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí!... Đồng thời, các thế lực thù địch luôn cho rằng chúng ta ngăn cấm báo chí, không cho báo chí tư nhân phát triển và thực hiện công tác kiểm duyệt báo chí một cách gắt gao. Và gần đây nhất khi một Video có nội dung giao ban Báo chí của Ban Tuyên giáo Trung ương nhằm tổng kết công tác báo chí năm qua, định hướng công tác báo chí năm tiếp theo được tán pát trên mạng internet thì các thế lực thù địch cho rằng Đảng Cộng sản tham gia vào công tác kiểm duyệt và quản lý báo chí và kêu gọi trả lại “tự do cho báo chí”, tạo điều kiện cho báo chí tư nhân phát triển…Nhưng chúng ta cũng cần có một cái nhìn khách quan và đúng đắn khi đánh giá tình hình báo chí nói chung và tự do báo chí ở Việt Nam nói riêng đưa ra những phán xét cuối cùng. Tại Việt Nam quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, được tôn trọng và được bảo đảm trên thực tế, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Tự do báo chí của một quốc gia luôn phụ thuộc vào nền dân chủ ở đó. Không thể có tự do báo chí ở một đất nước bị ngoại bang thống trị, dân tộc bị áp bức, bóc lột. Thực tiễn hơn tám mươi năm qua đã chứng minh rằng, dân tộc Việt Nam đã hy sinh, phấn đấu cho một nền dân chủ thực sự: dân chủ XHCN. Đó là nền dân chủ đã được chính lịch sử dân tộc Việt Nam lựa chọn, phù hợp với quy luật phát triển của nhân loại. Việc dân tộcViệt Nam giành được độc lập, tự do thực sự đã đưa lại quyền tự do trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và điều đó được bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật và được thực thi trong thựctiễn. Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (1992), Điều 69, ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin;... theo quy định của pháp luật...”. Để đảm bảo cho quyền được thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước ta đã ban hành các luật, như: Luật Báo chí năm 1989 và được sửa đổi, bổ sung năm 1999 (sau đây gọi là Luật Báo chí 1999); Luật Xuất bản năm 2001… Cùng với đó, Chính phủ và các cơ quan chức năng đã ban hành những quyết định, nghị định, thông tư, quy chế... về việc các cơ quan chức năng định kỳ thông tin với báo chí về tình hình mọi mặt của đất nước. Việc làm trên đã tạo ra hành lang pháp lý cho báo chí Việt Nam phát triển, người làm báo được tự do tác nghiệp trong khuôn khổ pháp luật, hoà nhập với báo chí khu vực và trên thế giới. Theo đó, tự do báo chí trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm xã hội, cá nhân và tổ chức báo chí là điều luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tôn trọng. Đảng và nhà nước ta luôn đảm bảo cho báo chí phát triển đúng hướng, việc đào tạo, nâng cao trình độ, nghiệp vụ báo chí cho những người làm báo luôn được Nhà nước ta hết sức quan tâm. Đến nay, ở Việt Nam, các trường đào tạo nghiệp vụ báo chí cho những người làm báo từ trung cấp, cao đẳng đến đại học, sau đại học không ngừng được mở rộng, củng cố. Cơ sở hạ tầng, chương trình, nội dung dạy học của hệ thống các trường ngày càng tiên tiến, hiện đại, đảm bảo phục vụ tốt cho công tác đào tạo. Hằng năm, các trường đã đào tạo được hằng tram sinh viên có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, sau khi tốt nghiệp, phần lớn đã phát huy được vai trò trong các cơ quan báo chí phục vụ cho yêu cầu phát triển của đất nước. Không chỉ vậy, Việt Nam còn thường xuyên mở rộng hợp tác quốc tế để bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm làm báo. Những năm gần đây, hằng trăm nhà báo được tạo điều kiện để giao lưu,tham quan, học hỏi kinh nghiệm, bồi dưỡng nghiệp vụ ở các nước trên thế giới,như: Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Thuỵ Điển, Trung Quốc… Đồng thời, để bảo vệ quyền lợi của các nhà báo và giúp nhau nâng cao trình độ nghiệp vụ, Việt Nam đã có Hội Nhà báo Việt Nam; các cấp Hội được tổ chức thành hệ thống chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương, thu hút gần 2 vạn hội viên. Hội Nhà báo Việt Nam là thành viên của Hội Nhà báo quốc tế (OIJ) và Liên đoàn Báo chí ASEAN (CAJ). Hội đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển của báo chí trong khu vực và trên thế giới vì sự ổn định, hoà bình, hợp tác, phát triển và thịnh vượng. Được sự quan tâm của Đảng,Nhà nước và nhân dân, những năm qua, nền báo chí Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về loại hình và số lượng cơ quan báo chí, về kỹ thuật chế bản, phát hành, và đặc biệt là về nội dung, chất lượng thông tin. Mỗi người dân Việt Nam, hay bất cứ người nào quan tâm thực sự đến Việt Nam đều thấy rõ, ở Việt Nam đã có đầy đủ các loại hình báo chí (báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử). Tính đến tháng 3 năm 2011, Việt Nam đã có 745 cơ quan báo chí, 24 nhà xuất bản, với 1.003 ấn phẩm (bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài) từ Trung ương đến địa phương, của ngành, các lĩnh vực chuyên ngành… Các cơ quan báo chí ở Việt Nam đều có tôn chỉ, mục đích hoạt động rõ ràng, được pháp luật bảo hộ; trên các ấn phẩm của mình đều ghi rõ địa chỉ, điện thoại liên lạc và đường dây nóng… để đảm bảo cho quyền được thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí cho mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trong xã hội. Đây là hệ thống thông tin đa loại hình, đa phương tiện, vừa có chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, quan niệm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thông tin đầy đủ, chính xác mọi mặt hoạt động của xã hội đến với nhân dân, vừa là diễn đàn của nhân dân, để nhân dân bày tỏ tâm tư, nguyện vọng; đồng thời, tham gia phản biện, đề xuất ý kiến về những chính sách kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh đối với Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội hoặc xã hội-nghề nghiệp. Bằng trí tuệ và bản lĩnh, gần 17.000 nhà báo (được Nhà nước cấp thẻ Nhà báo) cùng đội ngũ cộng tác viên đã thường xuyên bám sát thực tiễn cuộc sống, có mặt trên mọi vùng, miền của đất nước và một số địa bàn trọng điểm trên trường quốc tế để tổng hợp tin tức, tình hình, phản ánh kịp thời, sinh động các lĩnh vực của đời sống xã hội trong nước và quốc tế; cổ vũ công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát hiện, nêu gương các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến, gương“người tốt, việc tốt”… Đồng thời, thông qua hoạt động báo chí, những người làm báo Việt Nam luôn tích cực đi đầu trong đấu tranh với các tệ nạn xã hội; phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí; đấu tranh, vạch trần những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch; tích cực đề xuất, phản biện một cách khoa học về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; góp tiếng nói vào việc xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dântộc; củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN; làm cầu nối hữu nghị để mở rộng quan hệ của Việt Nam với bè bạn quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho các hãng thông tấn, cơ quan báo chí quốc tế hoạt động… Trên thực tế, báo chí ViệtNam đã thực sự là một kênh thông tin, phản biện xã hội rộng rãi, công khai, dân chủ, nhanh và có hiệu quả đến với các cấp chính quyền và mọi tầng lớp nhân dân.Thông qua báo chí, đã có hàng vạn ý kiến của nhân dân đóng góp ý kiến vào dựthảo văn kiện của các kỳ đại hội Đảng, mà gần đây nhất là Đại hội XI; nhiều chủ trương, chính sách của các cấp chính quyền, như: xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam, xây dựng khách sạn ở Công viên Thống Nhất (Hà Nội), xây dựng đườngtrục Hồ Tây-Ba Vì (Hà Nội), Luật Thủ đô… thông qua báo chí, đã được nhân dân ta thảo luận, phản biện sôi nổi, dân chủ. Cùng với đó, một số người có ý kiến rằng: không ít cơ quan báo chí đang mất định hướng, lờ đi những vấn đề hệ trọng của đất nước, dân tộc, nền tảng đạo đức, tư tưởng, số phận con người, mà sa vào những điều tầm thường một cách vô cảm, thậm chí độc ác; một số nhà báo làm báo quá dễ dãi hoặc với mục đích trục lợi phe nhóm, họ phán xét như là một cách “đào hố chôn người khác”; ngày càng gia tăng số người đọc thích thú với những thứ rẻ tiền, độc ác đăng trên báo…Điều này lại diễn ra trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, các phương tiện truyền thông hiện đại đang là công cụ tốt nhất để giúp cho báo chí truyền tải một lượng thông tin khổng lồ đến với công chúng. Đây vừa là thuận lợi, vừa là thách thức đối với những người làm báo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trên đây là bức tranh rất cơ bản về sự phát triển của nền báo chí Việt Nam. Bức tranh đó, tự nó đã khẳng định rõ: quyền con người nói chung, quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân ở Việt Nam nói riêng đã được đảm bảo. Đó là một thực tế khách quan không thể bác bỏ. Vậy tại sao một số tổ chức, một số thế lực, một số người... lại cho rằng, ở Việt Nam không có tự do báo chí? Hằng năm, họ đưa ra những cái gọi là “bản tổng kết”, “bản báo cáo”... để phán xét về tự do báo chí… ở Việt Nam. Họ lấy lý do ở Việt Nam chưa có báo chí tư nhân, Internet bị ngăn cấm, bị hạn chế… nên không có tự do ngôn luận, tự do báo chí! Phải chăng là vậy? Phải khẳng định ngay rằng, không phải không có báo chí tư nhân là không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều căn bản là báo chícó thực sự là diễn đàn phản ánh chân thực, đầy đủ được tiếng nói của mọi ngườidân, trên mọi phương diện của đời sống hay không. Điều 29, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948) khẳng định: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đốivới các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng vềđạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.Như vậy, quyền tự do báo chí của người này không được làm tổn hại đến quyền tự do của người khác, đến lợi ích của dân tộc; báo chí chỉ có được tự do khi chấp hành đúng và đầy đủ pháp luật, hoạt động vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Có thể khẳng định rằng, báo chí ở Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc và ngày càng thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầungày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Còn những người cho rằng, ở Việt Nam, Internet bị hạn chế, bị ngăn cấm… thì chẳng khác gì họ đang mơ ngủ.Thực tế đã cho thấy, Việt Nam đã và đang khai thác, sử dụng Internet một cách có hiệu quả và lành mạnh. Nghị định số 55/2001/NĐ-CP, ngày 23-8-2001 của Chínhphủ “về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet”, Điều 9, quy định rõ: “Không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ Internet…”. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu trong khu vực phát triển về Internet, với hệ thống hạ tầng ngày càng hiện đại, phát triển đến mọi vùng đấtnước, với trên 28 triệu thuê bao (chiếm 31,5% dân số). Với sự ra đời của VINASAT-1, mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam và một số vùng trong khu vực đều truy cập một cách dễ dàng vào hệ thống Internet không dây (3G). Cùng với đó, hang chục tờ báo điện tử, hàng ngàn trang thông tin điện tử, hàng vạn blog của cá nhân… đang hằng ngày, hằng giờ cập nhật mọi thông tin về đời sống vật chất, tinh thần của người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài, cũng như phản ánh những thông tin nóng hổi trong khu vực và trên thế giới. Bất cứ người dân Việt Nam nào cũng có thể sử dụng các trang mạng xã hội để học tập, tìm hiểu thế giới, nâng cao nhận thức, giao lưu với bè bạn khắp năm châu. Vậy, Việt Nam có hạn chế Internet hay không? Câu trả lời rõ ràng là: Việt Nam không ngăn cấm Internet; Nhà nước Việt Nam chỉ ngăn cấm những tổ chức và cá nhân nàolợi dụng Internet để chống phá nền dân chủ XHCN; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế; gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và các vi phạm pháp luật khác. Những ý kiến đánh giá sai lệch về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam là xuất phát từ những mưu đồ xấu. Mỗi khi tung hô sự tuyệt đối về tự do báo chí, đặt báo chí trên pháp luật… họ cố tình lờ đi trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng mà bất cứ tờ báo nào cũng phải thực hiện. Thực ra, họ mượn cớ tự do báo chí để tuyên truyền các luận điệu bịa đặt, bôi nhọ Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động,kêu gọi lật đổ chế độ XHCN đã được nhân dân ta lựa chọn… Đó là việc làm mà các thế lực thù địch tăng cường thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua; song âm mưu, thủ đoạn chống phá thông qua con bài “tự do báo chí” sẽ bị luật pháp nghiêm trị. Những ý kiến cho rằng, Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, Internet bị ngăn cấm… chỉ là thiểu số; còn đa số nhân dân ta hiểu rõ bản chất của họ là muốn thông qua báo chí tư nhân, lợi dụng Internet, sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình”, tuyên truyền, cổ xuý cho những cái gọi là “giá trị dân chủ” theo kiểu phương Tây, bịa chuyện, nói xấu chế độ XHCN, kích động hằn thù dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền văn hoá xấu độc,… nhằm mục đích xoá bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Vậy nguyên nhân nào không chỉ ở đất nước chúng ta công tác Báo chí cần đặt dưới sự lãnh đạo, định hướng và sự quản lý của Nhà nước? Chúng ta cùng lí giải: Về nguyên tắc, báo chí dù ở chế độ nào cũng là công cụ tư tưởng của nhà cầm quyền; đặc biệt là khi “Cách mạng Màu”, “Cách mạng Hoa tuy líp” hay hiệu ứng “Mùa xuân Ả Rập” đều có sự tham gia của các trang mạng xã hội và vai trò tích cực của Báo chí. Việc đưa ra những thông tin sai sự thật hay thông tin đó dù đúng nhưng tạo nên hiệu ứng xấu cho dư luận cũng như những đưa thông tin vào một thời điểm nhạy cảm đều gây nên những hậu quả xấu. Nhất là khi những thông tin đó chứa nội dung nhạy cảm như động chạm vào niềm tin tôn giáo, dân chủ, nhân quyền…tạo nên làn sóng phản đối và thậm chí nó còn ảnh hưởng tới sự tồn vong của chế độ, lí tưởng và mục tiêu đi lên của cả một dân tộc. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo báo chí là nguyên tắc bất di bất dịch trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, là công cụ tư tưởng của Đảng đồng thời là diễn đàn của quần chúng nhân dân.. Thực tế cách mạng Việt Nam trong gần một thế kỷ qua đã chứng minh: dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí Việt Nam đã có những đóng góp rất to lớn góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sau gần 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với sự phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội, báo chí Việt Nam đến nay đã có những bước phát triển mạnh mẽ về lượng và chất, cả về nội dung thông tin và phương pháp hành xử, cả về tiềm lực được tích lũy cũng như khả năng tác động vào đời sống xã hội. Có thể nói, sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam ngày nay là hệ quả của sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự phát triển đất nước, đồng thời cũng không tách rời sự tác động tích cực của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển khoa học - công nghệ của nhân loại. Toàn cầu hóa, bên cạnh những mặt tích cực, đã và đang dẫn đến những “tổn thương” sâu sắc về văn hóa từ thô bạo đến tinh vi. Các thế lực chính trị dưới tác động của toàn cầu hóa cố tình gây đảo lộn các giá trị xã hội ở các quốc gia qua sự can thiệp tinh vi vào đời sống chính trị với chiêu bài tự do báo chí, tự do tôn giáo, nhân quyền… Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa, thông thường được nhìn thấy ở lĩnh vực kinh tế, nhưng điều lo ngại là song hành với kinh tế là sự “đồng hóa” về văn hóa có tính chất chính trị. Những quan điểm sai trái, đạo đức lệch lạc, suy đồi, lối sống thực dụng, vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân gần như không có biên giới ào ạt tràn vào các quốc gia đang phát triển. Điều đáng quan tâm là toàn cầu hóa mang đến nguy cơ “xâm lược chính trị” thông qua “toàn cầu hóa báo chí” - một vũ khí của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Khi các thế lực chính trị trên thế giới lan truyền thông tin đã bị biến dạng bằng các thủ đoạn nhân danh cái tốt đẹp để xuyên tạc, bóp méo, mang tính phá hoại, lừa đảo người tiếp nhận…, thì tính nghiêm trọng của mặt trái toàn cầu hóa là mất ổn định về chính trị và văn hóa, trong đó có báo chí, đã tăng lên rất đáng lo ngại. Đối với báo chí Việt Nam, bên cạnh những thành tựu quan trọng trong quá trình phát triển đất nước, cũng đã bộc lộ những hạn chế, thậm chí tiêu cực cần phải được chấn chỉnh một cách nghiêm túc. Có thể nói chưa bao giờ trên mặt báo các hiện tượng tiêu cực của xã hội lại dày đặc như hiện nay. Rõ ràng, xem xét một cách công bằng thì dù là phản ánh đúng sự việc tiêu cực nhưng chỉ phản ánh mặt xấu của xã hội không thôi thì về bản chất báo chí đã không khách quan, tính định hướng tư tưởng xã hội của báo chí trở nên rất yếu. Một sự kiện diễn ra, đa số báo chí khai thác ở các khía cạnh giật gân hơn là định hướng tư tưởng xã hội. Do vậy mà có những thông tin gây bất lợi cho sự ổn định xã hội (ở mức độ nào đó vô tình khuyến khích những hành vi, lối sống xa lạ với truyền thống đạo lý của dân tộc), gây bất lợi cho lợi ích quốc gia, nhưng các cơ quan báo chí vẫn đưa lên mặt báo. Và điều nguy hại là chính báo chí, trang mạng của các thế lực chống đối chính trị chẳng cần phải mất nhiều công sức, chỉ cần trích dẫn và coppy những tin, bài viết về tiêu cực của báo chí Nhà nước Việt Nam là đã có “bằng chứng” chống phá chúng ta. Cơ quan chức năng về quản lý báo chí cách đây chưa lâu đã khẳng định những thành tựu, ưu điểm của báo chí nước ta nhưng cũng “chỉ tên” những yếu kém, khuyết điểm của báo chí thời gian qua. Trên mặt bằng báo chí cả nước còn nhiều sản phẩm chất lượng thấp, chưa kịp thời phát hiện và lý giải những vấn đề lớn do cuộc sống đặt ra. Nhiều tờ báo chưa biểu dương đúng mức những điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực, cũng như thiếu sự phê phán kịp thời những việc làm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đạo đức xã hội. Không ít trường hợp thông tin thiếu chính xác, làm lộ bí mật quốc gia. Khuynh hướng “thương mại hóa” gia tăng (đăng tải những chuyện giật gân, tình dục, bạo lực, mê tín dị đoan). Một số sách, báo, tạp chí, nhất là các số phụ, số chuyên đề xa rời tôn chỉ, mục đích và đối tượng phục vụ, nhất là đối với công nhân, nông dân. Một số nhà báo đã vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thông tin thiếu trung thực, gây tác động xấu đến dư luận xã hội, nhưng chưa được xử lý kịp thời theo pháp luật. Có trường hợp một số bài báo phủ nhận truyền thống và thành tựu cách mạng, xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa, làm lộ bí mật quốc gia, coi nhẹ công tác đấu tranh tư tưởng, đấu tranh lý luận, khai thác tin tức, tư liệu, bài vở báo chí nước ngoài thiếu chọn lọc. Có những vụ việc thông tin thiếu chính xác, thiếu khách quan, gây nhiễu thông tin, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, đưa tin sai không cải chính hoặc cải chính chiếu lệ làm ảnh hưởng tới uy tín đội ngũ làm báo. Có tình trạng để cho tư nhân chi phối một số hoạt động báo chí - xuất bản. Một số người làm báo, xuất bản bị ảnh hưởng bởi quan niệm không đúng về “tự do” báo chí - xuất bản, về vị trí, chức năng của người làm báo... Do được thụ hưởng những thành quả khoa học - công nghệ của thế giới, công cụ nghe nhìn ở nước ta phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, lợi dụng công nghệ mới, lợi dụng chính sách tự do ngôn luận của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch, những cá nhân mang tư tưởng hằn thù dân tộc, hằn thù chế độ, đã cho ra đời một loại truyền thông chửi rủa và phi nhân tính - một loại truyền thông mà tư duy về báo chí truyền thống không thể định nghĩa nó được. Việc nở rộ các trang mạng phản động, phi đạo đức trên internet là một ví dụ điển hình về tình trạng lợi dụng công nghệ truyền thông, chính sách tự do ngôn luận để thực hiện ý đồ “diễn biến hòa bình”, phi đạo đức và phi pháp luật. Ban đầu chỉ là nội dung giải trí, nhưng sau đó các trang mạng đã “chính trị hóa”, thô tục hóa, phi đạo đức hóa... Nhiều trang mạng hiện nay có “khuynh hướng” quái gở vì nó bôi nhọ, xuyên tạc chính trị, quy chụp, tục tĩu và phi nhân tính. Tuy nhiên, trước tình trạng nhiễu loạn trang mạng như vậy, các cơ quan báo chí chính thống của Đảng và Nhà nước ta hầu như không có động thái gì để đấu tranh, mà coi như đó là việc của cơ quan nào đó. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cũng như bối cảnh lịch sử, điều kiện chính trị và sứ mạng lịch sử của báo chí cách mạng cho thấy bản chất của báo chí cách mạng Việt Nam như sau: Báo chí do Đảng thành lập và lãnh đạo; Báo chí là công cụ đấu tranh tư tưởng của Đảng, bảo vệ quan điểm của Đảng, trung thành với lý tưởng của Đảng; Báo chí là diễn đàn của nhân dân, là trung tâm tập hợp quần chúng, là người dẫn đường, định hướng tư tưởng cách mạng cho nhân dân; Báo chí là người bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, đấu tranh vì hạnh phúc ấm no của nhân nhân; Báo chí đưa thông tin chân thực, chính xác, khách quan hướng người đọc đến Chân - Thiện - Mỹ... Đảng lãnh đạo báo chí Việt Nam là một nguyên tắc tối thượng, tiên quyết. Đảng lãnh đạo báo chí bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác, bằng tuyên truyền thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra. Đảng lãnh đạo báo chí thông qua các cơ quan nhà nước, thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng thành luật pháp, chính sách đối với báo chí. Đảng lãnh đạo báo chí thông qua các tổ chức Đảng trong các cơ quan báo chí, trong các cấp hội nhà báo, cơ quan chủ quản báo chí. Đảng lãnh đạo thông qua việc bố trí, đào tạo, quản lý cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí và công tác tổ chức cán bộ báo chí… Tuy nhiên, sự vận động của cuộc sống trong xu thế toàn cầu hóa đã và đang xuất hiện nhiều vấn đề rất mới về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới tư duy và nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của Đảng ở lĩnh vực trọng yếu này. Khẳng định cho những cá nhân, tổ chức trong nước và quốc tế rằng nếu báo chí thực sự phục vụ cho độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân, thì báo chí nói chung, người làm báo nói riêng sẽ có tự do thực sự. Báo chí Việt Nam đã và đang phát triển mạnh mẽ, luôn đồng hành cùng dân tộctrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. H.A

2 nhận xét:

  1. . Có những vụ việc thông tin thiếu chính xác, thiếu khách quan, gây nhiễu thông tin, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, đưa tin sai không cải chính hoặc cải chính chiếu lệ làm ảnh hưởng tới uy tín đội ngũ làm báo. Có tình trạng để cho tư nhân chi phối một số hoạt động báo chí – xuất bản. Một số người làm báo, xuất bản bị ảnh hưởng bởi quan niệm không đúng về “tự do” báo chí – xuất bản, về vị trí, chức năng của người làm báo… Do được thụ hưởng những thành quả khoa học – công nghệ của thế giới, công cụ nghe nhìn ở nước ta phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, lợi dụng công nghệ mới, lợi dụng chính sách tự do ngôn luận của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch, những cá nhân mang tư tưởng hằn thù dân tộc, hằn thù chế độ.

    Trả lờiXóa
  2. . Sau gần
    30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với sự phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế – xã hội, báo chí Việt Nam đến nay đã có những bước phát triển mạnh mẽ về lượng và chất, cả về nội dung thông tin và phương pháp hành xử, cả về tiềm lực được tích lũy cũng như khả năng tác động vào đời sống xã hội. Có thể nói, sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam ngày nay là hệ quả của sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự phát triển đất nước, đồng thời cũng không tách rời sự tác động tích cực của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển khoa học – công nghệ của nhân loại.

    Trả lờiXóa

Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Nổi bật trong tuần

Bài đăng nổi bật

Đọc thêm