Thứ Hai, 31 tháng 12, 2012

Hải An

Cùng với tiến trình đổi mới toàn diện đất nước, nền báo chí Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Thế nhưng, xuất phát từ dụng ý xấu, hiện vẫn có những thế lực cho rằng: ở Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí!... Đồng thời, các thế lực thù địch luôn cho rằng chúng ta ngăn cấm báo chí, không cho báo chí tư nhân phát triển và thực hiện công tác kiểm duyệt báo chí một cách gắt gao. Và gần đây nhất khi một Video có nội dung giao ban Báo chí của Ban Tuyên giáo Trung ương nhằm tổng kết công tác báo chí năm qua, định hướng công tác báo chí năm tiếp theo được tán pát trên mạng internet thì các thế lực thù địch cho rằng Đảng Cộng sản tham gia vào công tác kiểm duyệt và quản lý báo chí và kêu gọi trả lại “tự do cho báo chí”, tạo điều kiện cho báo chí tư nhân phát triển…Nhưng chúng ta cũng cần có một cái nhìn khách quan và đúng đắn khi đánh giá tình hình báo chí nói chung và tự do báo chí ở Việt Nam nói riêng đưa ra những phán xét cuối cùng. Tại Việt Nam quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được quy định rõ trong Hiến pháp, pháp luật, được tôn trọng và được bảo đảm trên thực tế, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Tự do báo chí của một quốc gia luôn phụ thuộc vào nền dân chủ ở đó. Không thể có tự do báo chí ở một đất nước bị ngoại bang thống trị, dân tộc bị áp bức, bóc lột. Thực tiễn hơn tám mươi năm qua đã chứng minh rằng, dân tộc Việt Nam đã hy sinh, phấn đấu cho một nền dân chủ thực sự: dân chủ XHCN. Đó là nền dân chủ đã được chính lịch sử dân tộc Việt Nam lựa chọn, phù hợp với quy luật phát triển của nhân loại. Việc dân tộcViệt Nam giành được độc lập, tự do thực sự đã đưa lại quyền tự do trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và điều đó được bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật và được thực thi trong thựctiễn. Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam (1992), Điều 69, ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin;... theo quy định của pháp luật...”. Để đảm bảo cho quyền được thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước ta đã ban hành các luật, như: Luật Báo chí năm 1989 và được sửa đổi, bổ sung năm 1999 (sau đây gọi là Luật Báo chí 1999); Luật Xuất bản năm 2001… Cùng với đó, Chính phủ và các cơ quan chức năng đã ban hành những quyết định, nghị định, thông tư, quy chế... về việc các cơ quan chức năng định kỳ thông tin với báo chí về tình hình mọi mặt của đất nước. Việc làm trên đã tạo ra hành lang pháp lý cho báo chí Việt Nam phát triển, người làm báo được tự do tác nghiệp trong khuôn khổ pháp luật, hoà nhập với báo chí khu vực và trên thế giới. Theo đó, tự do báo chí trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm xã hội, cá nhân và tổ chức báo chí là điều luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tôn trọng. Đảng và nhà nước ta luôn đảm bảo cho báo chí phát triển đúng hướng, việc đào tạo, nâng cao trình độ, nghiệp vụ báo chí cho những người làm báo luôn được Nhà nước ta hết sức quan tâm. Đến nay, ở Việt Nam, các trường đào tạo nghiệp vụ báo chí cho những người làm báo từ trung cấp, cao đẳng đến đại học, sau đại học không ngừng được mở rộng, củng cố. Cơ sở hạ tầng, chương trình, nội dung dạy học của hệ thống các trường ngày càng tiên tiến, hiện đại, đảm bảo phục vụ tốt cho công tác đào tạo. Hằng năm, các trường đã đào tạo được hằng tram sinh viên có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ, sau khi tốt nghiệp, phần lớn đã phát huy được vai trò trong các cơ quan báo chí phục vụ cho yêu cầu phát triển của đất nước. Không chỉ vậy, Việt Nam còn thường xuyên mở rộng hợp tác quốc tế để bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm làm báo. Những năm gần đây, hằng trăm nhà báo được tạo điều kiện để giao lưu,tham quan, học hỏi kinh nghiệm, bồi dưỡng nghiệp vụ ở các nước trên thế giới,như: Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Thuỵ Điển, Trung Quốc… Đồng thời, để bảo vệ quyền lợi của các nhà báo và giúp nhau nâng cao trình độ nghiệp vụ, Việt Nam đã có Hội Nhà báo Việt Nam; các cấp Hội được tổ chức thành hệ thống chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương, thu hút gần 2 vạn hội viên. Hội Nhà báo Việt Nam là thành viên của Hội Nhà báo quốc tế (OIJ) và Liên đoàn Báo chí ASEAN (CAJ). Hội đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển của báo chí trong khu vực và trên thế giới vì sự ổn định, hoà bình, hợp tác, phát triển và thịnh vượng. Được sự quan tâm của Đảng,Nhà nước và nhân dân, những năm qua, nền báo chí Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc về loại hình và số lượng cơ quan báo chí, về kỹ thuật chế bản, phát hành, và đặc biệt là về nội dung, chất lượng thông tin. Mỗi người dân Việt Nam, hay bất cứ người nào quan tâm thực sự đến Việt Nam đều thấy rõ, ở Việt Nam đã có đầy đủ các loại hình báo chí (báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử). Tính đến tháng 3 năm 2011, Việt Nam đã có 745 cơ quan báo chí, 24 nhà xuất bản, với 1.003 ấn phẩm (bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài) từ Trung ương đến địa phương, của ngành, các lĩnh vực chuyên ngành… Các cơ quan báo chí ở Việt Nam đều có tôn chỉ, mục đích hoạt động rõ ràng, được pháp luật bảo hộ; trên các ấn phẩm của mình đều ghi rõ địa chỉ, điện thoại liên lạc và đường dây nóng… để đảm bảo cho quyền được thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí cho mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi trong xã hội. Đây là hệ thống thông tin đa loại hình, đa phương tiện, vừa có chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, quan niệm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thông tin đầy đủ, chính xác mọi mặt hoạt động của xã hội đến với nhân dân, vừa là diễn đàn của nhân dân, để nhân dân bày tỏ tâm tư, nguyện vọng; đồng thời, tham gia phản biện, đề xuất ý kiến về những chính sách kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh đối với Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội hoặc xã hội-nghề nghiệp. Bằng trí tuệ và bản lĩnh, gần 17.000 nhà báo (được Nhà nước cấp thẻ Nhà báo) cùng đội ngũ cộng tác viên đã thường xuyên bám sát thực tiễn cuộc sống, có mặt trên mọi vùng, miền của đất nước và một số địa bàn trọng điểm trên trường quốc tế để tổng hợp tin tức, tình hình, phản ánh kịp thời, sinh động các lĩnh vực của đời sống xã hội trong nước và quốc tế; cổ vũ công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát hiện, nêu gương các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến, gương“người tốt, việc tốt”… Đồng thời, thông qua hoạt động báo chí, những người làm báo Việt Nam luôn tích cực đi đầu trong đấu tranh với các tệ nạn xã hội; phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí; đấu tranh, vạch trần những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch; tích cực đề xuất, phản biện một cách khoa học về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; góp tiếng nói vào việc xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dântộc; củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN; làm cầu nối hữu nghị để mở rộng quan hệ của Việt Nam với bè bạn quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho các hãng thông tấn, cơ quan báo chí quốc tế hoạt động… Trên thực tế, báo chí ViệtNam đã thực sự là một kênh thông tin, phản biện xã hội rộng rãi, công khai, dân chủ, nhanh và có hiệu quả đến với các cấp chính quyền và mọi tầng lớp nhân dân.Thông qua báo chí, đã có hàng vạn ý kiến của nhân dân đóng góp ý kiến vào dựthảo văn kiện của các kỳ đại hội Đảng, mà gần đây nhất là Đại hội XI; nhiều chủ trương, chính sách của các cấp chính quyền, như: xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam, xây dựng khách sạn ở Công viên Thống Nhất (Hà Nội), xây dựng đườngtrục Hồ Tây-Ba Vì (Hà Nội), Luật Thủ đô… thông qua báo chí, đã được nhân dân ta thảo luận, phản biện sôi nổi, dân chủ. Cùng với đó, một số người có ý kiến rằng: không ít cơ quan báo chí đang mất định hướng, lờ đi những vấn đề hệ trọng của đất nước, dân tộc, nền tảng đạo đức, tư tưởng, số phận con người, mà sa vào những điều tầm thường một cách vô cảm, thậm chí độc ác; một số nhà báo làm báo quá dễ dãi hoặc với mục đích trục lợi phe nhóm, họ phán xét như là một cách “đào hố chôn người khác”; ngày càng gia tăng số người đọc thích thú với những thứ rẻ tiền, độc ác đăng trên báo…Điều này lại diễn ra trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, các phương tiện truyền thông hiện đại đang là công cụ tốt nhất để giúp cho báo chí truyền tải một lượng thông tin khổng lồ đến với công chúng. Đây vừa là thuận lợi, vừa là thách thức đối với những người làm báo Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Trên đây là bức tranh rất cơ bản về sự phát triển của nền báo chí Việt Nam. Bức tranh đó, tự nó đã khẳng định rõ: quyền con người nói chung, quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân ở Việt Nam nói riêng đã được đảm bảo. Đó là một thực tế khách quan không thể bác bỏ. Vậy tại sao một số tổ chức, một số thế lực, một số người... lại cho rằng, ở Việt Nam không có tự do báo chí? Hằng năm, họ đưa ra những cái gọi là “bản tổng kết”, “bản báo cáo”... để phán xét về tự do báo chí… ở Việt Nam. Họ lấy lý do ở Việt Nam chưa có báo chí tư nhân, Internet bị ngăn cấm, bị hạn chế… nên không có tự do ngôn luận, tự do báo chí! Phải chăng là vậy? Phải khẳng định ngay rằng, không phải không có báo chí tư nhân là không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều căn bản là báo chícó thực sự là diễn đàn phản ánh chân thực, đầy đủ được tiếng nói của mọi ngườidân, trên mọi phương diện của đời sống hay không. Điều 29, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948) khẳng định: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đốivới các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng vềđạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.Như vậy, quyền tự do báo chí của người này không được làm tổn hại đến quyền tự do của người khác, đến lợi ích của dân tộc; báo chí chỉ có được tự do khi chấp hành đúng và đầy đủ pháp luật, hoạt động vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Có thể khẳng định rằng, báo chí ở Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc và ngày càng thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầungày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Còn những người cho rằng, ở Việt Nam, Internet bị hạn chế, bị ngăn cấm… thì chẳng khác gì họ đang mơ ngủ.Thực tế đã cho thấy, Việt Nam đã và đang khai thác, sử dụng Internet một cách có hiệu quả và lành mạnh. Nghị định số 55/2001/NĐ-CP, ngày 23-8-2001 của Chínhphủ “về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet”, Điều 9, quy định rõ: “Không ai được ngăn cản quyền sử dụng hợp pháp các dịch vụ Internet…”. Hiện nay, Việt Nam đã trở thành quốc gia hàng đầu trong khu vực phát triển về Internet, với hệ thống hạ tầng ngày càng hiện đại, phát triển đến mọi vùng đấtnước, với trên 28 triệu thuê bao (chiếm 31,5% dân số). Với sự ra đời của VINASAT-1, mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam và một số vùng trong khu vực đều truy cập một cách dễ dàng vào hệ thống Internet không dây (3G). Cùng với đó, hang chục tờ báo điện tử, hàng ngàn trang thông tin điện tử, hàng vạn blog của cá nhân… đang hằng ngày, hằng giờ cập nhật mọi thông tin về đời sống vật chất, tinh thần của người Việt Nam ở trong nước và định cư ở nước ngoài, cũng như phản ánh những thông tin nóng hổi trong khu vực và trên thế giới. Bất cứ người dân Việt Nam nào cũng có thể sử dụng các trang mạng xã hội để học tập, tìm hiểu thế giới, nâng cao nhận thức, giao lưu với bè bạn khắp năm châu. Vậy, Việt Nam có hạn chế Internet hay không? Câu trả lời rõ ràng là: Việt Nam không ngăn cấm Internet; Nhà nước Việt Nam chỉ ngăn cấm những tổ chức và cá nhân nàolợi dụng Internet để chống phá nền dân chủ XHCN; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế; gây rối loạn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; vi phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục và các vi phạm pháp luật khác. Những ý kiến đánh giá sai lệch về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam là xuất phát từ những mưu đồ xấu. Mỗi khi tung hô sự tuyệt đối về tự do báo chí, đặt báo chí trên pháp luật… họ cố tình lờ đi trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng mà bất cứ tờ báo nào cũng phải thực hiện. Thực ra, họ mượn cớ tự do báo chí để tuyên truyền các luận điệu bịa đặt, bôi nhọ Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động,kêu gọi lật đổ chế độ XHCN đã được nhân dân ta lựa chọn… Đó là việc làm mà các thế lực thù địch tăng cường thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua; song âm mưu, thủ đoạn chống phá thông qua con bài “tự do báo chí” sẽ bị luật pháp nghiêm trị. Những ý kiến cho rằng, Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, Internet bị ngăn cấm… chỉ là thiểu số; còn đa số nhân dân ta hiểu rõ bản chất của họ là muốn thông qua báo chí tư nhân, lợi dụng Internet, sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình”, tuyên truyền, cổ xuý cho những cái gọi là “giá trị dân chủ” theo kiểu phương Tây, bịa chuyện, nói xấu chế độ XHCN, kích động hằn thù dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền văn hoá xấu độc,… nhằm mục đích xoá bỏ chế độ XHCN ở nước ta. Vậy nguyên nhân nào không chỉ ở đất nước chúng ta công tác Báo chí cần đặt dưới sự lãnh đạo, định hướng và sự quản lý của Nhà nước? Chúng ta cùng lí giải: Về nguyên tắc, báo chí dù ở chế độ nào cũng là công cụ tư tưởng của nhà cầm quyền; đặc biệt là khi “Cách mạng Màu”, “Cách mạng Hoa tuy líp” hay hiệu ứng “Mùa xuân Ả Rập” đều có sự tham gia của các trang mạng xã hội và vai trò tích cực của Báo chí. Việc đưa ra những thông tin sai sự thật hay thông tin đó dù đúng nhưng tạo nên hiệu ứng xấu cho dư luận cũng như những đưa thông tin vào một thời điểm nhạy cảm đều gây nên những hậu quả xấu. Nhất là khi những thông tin đó chứa nội dung nhạy cảm như động chạm vào niềm tin tôn giáo, dân chủ, nhân quyền…tạo nên làn sóng phản đối và thậm chí nó còn ảnh hưởng tới sự tồn vong của chế độ, lí tưởng và mục tiêu đi lên của cả một dân tộc. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo báo chí là nguyên tắc bất di bất dịch trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, là công cụ tư tưởng của Đảng đồng thời là diễn đàn của quần chúng nhân dân.. Thực tế cách mạng Việt Nam trong gần một thế kỷ qua đã chứng minh: dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí Việt Nam đã có những đóng góp rất to lớn góp phần rất quan trọng làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Sau gần 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với sự phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế - xã hội, báo chí Việt Nam đến nay đã có những bước phát triển mạnh mẽ về lượng và chất, cả về nội dung thông tin và phương pháp hành xử, cả về tiềm lực được tích lũy cũng như khả năng tác động vào đời sống xã hội. Có thể nói, sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam ngày nay là hệ quả của sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự phát triển đất nước, đồng thời cũng không tách rời sự tác động tích cực của quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển khoa học - công nghệ của nhân loại. Toàn cầu hóa, bên cạnh những mặt tích cực, đã và đang dẫn đến những “tổn thương” sâu sắc về văn hóa từ thô bạo đến tinh vi. Các thế lực chính trị dưới tác động của toàn cầu hóa cố tình gây đảo lộn các giá trị xã hội ở các quốc gia qua sự can thiệp tinh vi vào đời sống chính trị với chiêu bài tự do báo chí, tự do tôn giáo, nhân quyền… Tác động tiêu cực của toàn cầu hóa, thông thường được nhìn thấy ở lĩnh vực kinh tế, nhưng điều lo ngại là song hành với kinh tế là sự “đồng hóa” về văn hóa có tính chất chính trị. Những quan điểm sai trái, đạo đức lệch lạc, suy đồi, lối sống thực dụng, vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân gần như không có biên giới ào ạt tràn vào các quốc gia đang phát triển. Điều đáng quan tâm là toàn cầu hóa mang đến nguy cơ “xâm lược chính trị” thông qua “toàn cầu hóa báo chí” - một vũ khí của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Khi các thế lực chính trị trên thế giới lan truyền thông tin đã bị biến dạng bằng các thủ đoạn nhân danh cái tốt đẹp để xuyên tạc, bóp méo, mang tính phá hoại, lừa đảo người tiếp nhận…, thì tính nghiêm trọng của mặt trái toàn cầu hóa là mất ổn định về chính trị và văn hóa, trong đó có báo chí, đã tăng lên rất đáng lo ngại. Đối với báo chí Việt Nam, bên cạnh những thành tựu quan trọng trong quá trình phát triển đất nước, cũng đã bộc lộ những hạn chế, thậm chí tiêu cực cần phải được chấn chỉnh một cách nghiêm túc. Có thể nói chưa bao giờ trên mặt báo các hiện tượng tiêu cực của xã hội lại dày đặc như hiện nay. Rõ ràng, xem xét một cách công bằng thì dù là phản ánh đúng sự việc tiêu cực nhưng chỉ phản ánh mặt xấu của xã hội không thôi thì về bản chất báo chí đã không khách quan, tính định hướng tư tưởng xã hội của báo chí trở nên rất yếu. Một sự kiện diễn ra, đa số báo chí khai thác ở các khía cạnh giật gân hơn là định hướng tư tưởng xã hội. Do vậy mà có những thông tin gây bất lợi cho sự ổn định xã hội (ở mức độ nào đó vô tình khuyến khích những hành vi, lối sống xa lạ với truyền thống đạo lý của dân tộc), gây bất lợi cho lợi ích quốc gia, nhưng các cơ quan báo chí vẫn đưa lên mặt báo. Và điều nguy hại là chính báo chí, trang mạng của các thế lực chống đối chính trị chẳng cần phải mất nhiều công sức, chỉ cần trích dẫn và coppy những tin, bài viết về tiêu cực của báo chí Nhà nước Việt Nam là đã có “bằng chứng” chống phá chúng ta. Cơ quan chức năng về quản lý báo chí cách đây chưa lâu đã khẳng định những thành tựu, ưu điểm của báo chí nước ta nhưng cũng “chỉ tên” những yếu kém, khuyết điểm của báo chí thời gian qua. Trên mặt bằng báo chí cả nước còn nhiều sản phẩm chất lượng thấp, chưa kịp thời phát hiện và lý giải những vấn đề lớn do cuộc sống đặt ra. Nhiều tờ báo chưa biểu dương đúng mức những điển hình tiên tiến trên các lĩnh vực, cũng như thiếu sự phê phán kịp thời những việc làm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và đạo đức xã hội. Không ít trường hợp thông tin thiếu chính xác, làm lộ bí mật quốc gia. Khuynh hướng “thương mại hóa” gia tăng (đăng tải những chuyện giật gân, tình dục, bạo lực, mê tín dị đoan). Một số sách, báo, tạp chí, nhất là các số phụ, số chuyên đề xa rời tôn chỉ, mục đích và đối tượng phục vụ, nhất là đối với công nhân, nông dân. Một số nhà báo đã vi phạm đạo đức nghề nghiệp, thông tin thiếu trung thực, gây tác động xấu đến dư luận xã hội, nhưng chưa được xử lý kịp thời theo pháp luật. Có trường hợp một số bài báo phủ nhận truyền thống và thành tựu cách mạng, xa rời định hướng xã hội chủ nghĩa, làm lộ bí mật quốc gia, coi nhẹ công tác đấu tranh tư tưởng, đấu tranh lý luận, khai thác tin tức, tư liệu, bài vở báo chí nước ngoài thiếu chọn lọc. Có những vụ việc thông tin thiếu chính xác, thiếu khách quan, gây nhiễu thông tin, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, đưa tin sai không cải chính hoặc cải chính chiếu lệ làm ảnh hưởng tới uy tín đội ngũ làm báo. Có tình trạng để cho tư nhân chi phối một số hoạt động báo chí - xuất bản. Một số người làm báo, xuất bản bị ảnh hưởng bởi quan niệm không đúng về “tự do” báo chí - xuất bản, về vị trí, chức năng của người làm báo... Do được thụ hưởng những thành quả khoa học - công nghệ của thế giới, công cụ nghe nhìn ở nước ta phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, lợi dụng công nghệ mới, lợi dụng chính sách tự do ngôn luận của Đảng và Nhà nước ta, các thế lực thù địch, những cá nhân mang tư tưởng hằn thù dân tộc, hằn thù chế độ, đã cho ra đời một loại truyền thông chửi rủa và phi nhân tính - một loại truyền thông mà tư duy về báo chí truyền thống không thể định nghĩa nó được. Việc nở rộ các trang mạng phản động, phi đạo đức trên internet là một ví dụ điển hình về tình trạng lợi dụng công nghệ truyền thông, chính sách tự do ngôn luận để thực hiện ý đồ “diễn biến hòa bình”, phi đạo đức và phi pháp luật. Ban đầu chỉ là nội dung giải trí, nhưng sau đó các trang mạng đã “chính trị hóa”, thô tục hóa, phi đạo đức hóa... Nhiều trang mạng hiện nay có “khuynh hướng” quái gở vì nó bôi nhọ, xuyên tạc chính trị, quy chụp, tục tĩu và phi nhân tính. Tuy nhiên, trước tình trạng nhiễu loạn trang mạng như vậy, các cơ quan báo chí chính thống của Đảng và Nhà nước ta hầu như không có động thái gì để đấu tranh, mà coi như đó là việc của cơ quan nào đó. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cũng như bối cảnh lịch sử, điều kiện chính trị và sứ mạng lịch sử của báo chí cách mạng cho thấy bản chất của báo chí cách mạng Việt Nam như sau: Báo chí do Đảng thành lập và lãnh đạo; Báo chí là công cụ đấu tranh tư tưởng của Đảng, bảo vệ quan điểm của Đảng, trung thành với lý tưởng của Đảng; Báo chí là diễn đàn của nhân dân, là trung tâm tập hợp quần chúng, là người dẫn đường, định hướng tư tưởng cách mạng cho nhân dân; Báo chí là người bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, đấu tranh vì hạnh phúc ấm no của nhân nhân; Báo chí đưa thông tin chân thực, chính xác, khách quan hướng người đọc đến Chân - Thiện - Mỹ... Đảng lãnh đạo báo chí Việt Nam là một nguyên tắc tối thượng, tiên quyết. Đảng lãnh đạo báo chí bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác, bằng tuyên truyền thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra. Đảng lãnh đạo báo chí thông qua các cơ quan nhà nước, thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng thành luật pháp, chính sách đối với báo chí. Đảng lãnh đạo báo chí thông qua các tổ chức Đảng trong các cơ quan báo chí, trong các cấp hội nhà báo, cơ quan chủ quản báo chí. Đảng lãnh đạo thông qua việc bố trí, đào tạo, quản lý cán bộ lãnh đạo cơ quan báo chí và công tác tổ chức cán bộ báo chí… Tuy nhiên, sự vận động của cuộc sống trong xu thế toàn cầu hóa đã và đang xuất hiện nhiều vấn đề rất mới về lý luận và thực tiễn, đòi hỏi Đảng ta phải đổi mới tư duy và nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện của Đảng ở lĩnh vực trọng yếu này. Khẳng định cho những cá nhân, tổ chức trong nước và quốc tế rằng nếu báo chí thực sự phục vụ cho độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân, thì báo chí nói chung, người làm báo nói riêng sẽ có tự do thực sự. Báo chí Việt Nam đã và đang phát triển mạnh mẽ, luôn đồng hành cùng dân tộctrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. H.A

Chủ Nhật, 30 tháng 12, 2012

Buổi tối mùa đông, Hà Nội như run lên trong cái lạnh của gió mùa đông bắc về, mặc thất ấm áp, tôi bước ra chợ đêm sinh viên để ngắm hang hóa và cũng để ngắm “người”. Dù trời lạnh nhưng chợ vẫn rất đông, dòng người chen lấn nhau, chợt chân tôi dừng lại trước một cụ già gầy nhom, ăn mặc phong phanh, rách rưới, cụ đang chía chiếc nón rách xin những đồng tiền lẻ của dòng người trong chợ, rút tờ 5000 VND bỏ vào nón của cụ, và nhận được một nụ cười như cảm ơn nơi cụ. Lòng tôi chợt nhói đau, đau vì thương cho cuộc đời của cụ, ở cái tuổi “xưa nay hiếm” như cụ giờ này đáng nhẽ không phải chịu rét ở đây để xin miếng ăn qua ngày, và càng thấy đau hơn khi thấy người ta đi đi lại qua chỗ cụ mà rửng rưng như không hay, không thấy vậy. Thật buồn làm sao.

Tôi tự hỏi tại sao con người ta trong khi sẵn sàng bỏ ra hàng trăm, hàng triệu, thậm chí hàng trăm triệu để mua một cái quần, cái áo, để ăn một bữa ăn nhưng lại tiếc nuối hai nghìn đồng để cho một bà cụ ăn xin; có thể bỏ ra hang tỷ để ăn chợi, để thiết đãi bạn bè nhưng không thể bỏ ra hai nghìn đồng để cho một bà cụ ăn xin…

Người Việt Nam ta có truyền thống là lành đùm lá rách, khi một cùng miền trong nước xảy ra thiên tai, người dân trong cả nước sẵn sang ủng hộ, quyên góp để cứu trợ đồng bào gặp khó khăn, nhưng tại saoo khi gặp một người ăn xin họ lại có thể dửng dưng như vậy, có lẽ đó là cảnh mà họ đã gặpthường xuyên, quá nhiều. Không phải tất cả những người đi ăn xin đều có hoàn cảnh khó khăn, một số ít trong đó là lợi dụng lòng tốt của mọi người để làm giáu cho mính. Tôi nói làm giàu cũng không ngoa khi mà họ có nhà cửa khang trang, cuộc sống no đủ nhưng họ vẫn đi “xin”, thậm chí có trường hợp con cái bắt bố mẹ già đi xin, đáng sợ hơn còn có những người lợi dụng người thân của mình bị tật nguyền, ngày ngày đưa họ ra chợ để họ bò lê xin ăn, tôi thật không hiểu tại sao họ có thể kiếm miếng ăn trên nỗi khổ của người thân mình như thế. Lương tâm của họ đâu, phải chăng do bộn bề cuộc sống, do cơm áo gạo tiền mà họ trở nên như thế?

Nước ta còn nhiều người nghèo, cuộc sống của nhiều người dân còn thiếu thốn, đã vậy hàng năm nước ta còn xảy ra biết bao thiên tai, lũ lụt, hạn hán, khiến cho cuộc sống của người dân mà đặc biệt là người nông dân càng khó khăn hơn. Nhà nước tuy cũng có trợ cấp nhưng thử hỏi nhừng đồng tiền cứu giúp đó khi đến tay người nông dân thì còn lại được bao nhiêu, có nguyên vẹn như những gì được ủng hộ không. Trong khi cán bộ nhà nước có thể đánh bạc tới hàng tỷ đồng thì người dân lại đói khát và kiếm từng bát cơm qua ngày, không phải tôi có ý chê trách gì, cũng không phải tất cả các cán bộ nhà nước ta đều như thế mà đó chỉ là những con số rất rất nhỏ, những con người biến chất, những con người mà nhà nước ta, nhân dân ta đã, đang và sẽ cải tạo lại để xã hội ngày càng tốt đẹp.

Cuộc sống không phải như ta mong muốn, không ai muốn làm những điếu trái với lương tâm và chuẩn mực xã hội, nhưng xin đừng lấy những lý do đó để biện hộ cho mình, đừng để một chút lợi trước mặt mà đánh mất lương tâm, để kẻ khác lợi dụng. Hãy sống sao để sau này không phải hổ thẹn với chính bản thân mình, bạn nhé!

CHUỘT CON

Thứ Sáu, 28 tháng 12, 2012

Tháng 12, tháng kỷ niệm 40 năm chiến thắng “Hà Nội – Điện Biên phủ trên không”  - chiến thắng tiêu biểu cho khí phách anh hùng, tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh.

Trong cuộc đụng đầu với không quân chiến lược Mỹ trên bầu trời thủ đô Hà Nội 12 ngày đêm cuối năm 1972, quân và dân Việt Nam chẳng những không bị khuất phục trước sức mạnh “không thể tưởng tượng nổi” của không lực Hoa Kỳ mà còn làm cho hàng chục “pháo đài bay B-52”, “con ma”, “thần sấm” phải phơi xác ngay trên mảnh đất thiêng Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Trong điều kiện vô cùng thiếu thốn và khó khăn về cả sức người và sức của, chỉ bằng những vũ khí nếu so với địch có thể nói là quá thô sơ, nhưng con người Việt Nam không chỉ dung lực để chiến đấu mà dung trí để đấu tranh, để đánh bại kẻ thù xâm lược. Bằng trí tuệ và lòng kiên cường quân và dân ta đã làm nên một “Điện Biên Phủ thứ hai - Điện Biên Phủ trên không” tren bầu trời thủ đô Hà Nội, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri, rút hết quân viễn chinh về nước, làm thay đổi căn bản cục diện chiến tranh, mở ra thời cơ chiến lược để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Sau 40 năm độ lùi thời gian chẳng thể làm mờ ký ức của một thời lửa đạn, mà càng làm cho chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn, sâu sắc hơn về sự kiện lịch sử trọng đại này; về những nhân tố làm nên một trong những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Việt Nam ngày nay là một quốc gia  độc lập có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, luôn sẵn sàng làm bạn với các nước trên thế giới. Tuy nhiên, cả xưa và nay Việt Nam vẫn là nơi “nhòm ngó, thèm thuồng” của các nước trên thế giới. Ngày nay, không còn bị tấn công về vũ trang, về súng đạn, hay thả bom nữa, cuộc chiến mà nhân dân Việt Nam đang phải đối đầu để bảo vệ đất nước, bảo vệ chủ quyền là cuộc chiến trên lĩnh vực ngoại giao. Các thế lực thù địch luôn tìm cách chống phá đất nước, nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa của ta, ông cha ta đã xây dựng nên đất nước này, chế độ này, thì nhiệm vụ của chúng ta ngày nay là phải bảo vệ nó. Hãy nhìn vào các chiến công đánh đuổi giặc ngoại xâm của quân và dân ta trước đây như chiến thắng “Điện Biên phủ trên không, “chiến thắng mùa xuân năm 1975”…để thấy rằng đối với người Việt Nam khi có kẻ thù xâm lược thì trong điều kiện nào, hoàn cảnh nào, kẻ thù dù là ai, trên lĩnh vực nào cũng sẽ dùng hết sức lực và trí tuệ để đấu tranh bảo vệ đất nước, bảo vệ xã hội chủ nghĩa.

                                                                               CHUỘT CON


 

trelang.vn


 Mai Thanh Hải - Rất thấm thía câu: "Cười như địa chủ được mùa ngô", khi mỗi chuyến đi, chứng kiến cảnh bọn lít nhít đang phong phanh áo rách, run cầm cập, được khoác mũ áo mới xúng xính và cười như nắc nẻ, má phính đỏ hồng.



Với 62 đứa (40 Mầm non, 22 Tiểu học) của điểm Trường Háng Gàng (Pá Hu, Trạm Tấu, Yên Bái), cái câu này phải đổi chủ ngữ thành "đại địa chủ", bởi như lời cán bộ xã, giáo viên và phụ huynh thừa nhận: Từ hồi cha sinh mẹ đẻ đến giờ, lần đầu tiên đồng bào ở đây mới thấy áo mới, dày ấm và đẹp đến thế.


Chả thế mà lũ trẻ, khi được cô giáo Cúc dẫn qua đoạn hiên lớp học chênh vênh sườn núi, ra khoảnh đất bé tý, hiếm hoi được gọi là sân trường, mắt cứ tròn xoe nhìn đống áo - ủng xếp ngay ngắn, không đi nổi, khiến cô giáo phải hô đến rát họng, mới tập hợp được thành hàng ngay ngắn.


Thích nhất là lúc được mặc áo, đội mũ, đi ủng... đứa này sờ áo đứa khác, khoe màu này đẹp hơn màu kia, cứ rì rà rì rầm như tằm ăn rỗi, làm cô giáo cũng mê tơi, chả nỡ "dẹp trật tự"...


Chả thế mà lúc mặc áo xong, có phụ huynh đến đón con sớm. Đứng giữa đám trẻ xanh đỏ tím vàng, nhộn nhạo màu sắc, ngẩn ngơ tìm mãi không thấy con, đành thảng thốt gọi cô giáo để... đòi con, khiến tụi mình cười lăn lóc.


Mặc xong áo, ăn xong cơm, cả điểm Trường không đứa nào ngủ được, cô giáo Cúc đành cho chúng nó tự chơi, đỡ thèm "cơn" khoe áo mới.


Chả thế mà chúng nó chạy tung tăng khắp bản Háng Gàng, khoe tíu tít với mọi người, khiến bản Mông lưng chừng núi như có đám cưới, mổ nhiều con lợn và trên này, có áo mới, không cần lợn cưới, cũng cứ khoe...


TB: Ngay sau khi Đại diện Chương trình Áo ấm biên cương lên khảo sát việc xây dựng điểm Trường, kết hợp tặng quà (85 áo khoác, 40 ủng cho học sinh Háng Gàng, Pa Hủ) và có bài viết phản ánh đời sống, sinh hoạt, học tập của thầy và trò nơi đây, rất nhiều bạn đọc đã ngỏ ý được giúp riêng 5 điểm Trường của trong xã, để các cháu có tấm áo, đôi ủng, chiếc mũ mới đón Tết Nguyên đán.


Xét thấy điều kiện đặc biệt khó khăn của thầy trò xã Pá Hu, Ban Điều hành Áo ấm biên cương quyết định tổ chức 1 chuyến hàng, lên trao tận tay các học sinh ở toàn bộ 5 điểm Trường, với mức thụ hưởng như học sinh khu vực biên giới (trừ số lượng đã được nhận áo - ủng - mũ hôm khảo sát vừa qua): áo khoác chống lạnh; mũ len; ủng cao su; chăn bông; gối; vải bạt... và một số quần áo cũ đã qua sử dụng.


Do đặc thù của các điểm trường Pá Hu, ngoài số học sinh Mầm non - Tiểu học bán trú, còn có một số Mầm non 3-4 tuổi học Nội trú (đầu tuần gia đình trao học sinh cho giáo viên lo ăn ngủ các ngày trong tuần, cuối tuần mới từ trên núi xuống đón con) - chuyện không tưởng, chỉ xảy ra ở Trạm Tấu - nên cũng rất cần sự hỗ trợ về đồ dùng ăn uống, ngủ trưa và thực phẩm nấu bữa trưa cho các cháu.


Rất mong bạn đọc ủng hộ tiền để mua áo khoác, ủng cao su, mũ lên mới cho các cháu và đồ dùng sinh hoạt, ăn uống. Chúng tôi cũng xin tiếp nhận các thực phẩm phục vụ bữa ăn của các cháu (gạo - mì tôm, dầu ăn, đồ hộp, bánh kẹo, cá khô, mắm muối...).


Trân trọng cảm ơn mọi tấm lòng!.


--------------------------------


Mọi sự ủng hộ và cập nhật, xin đọc tại: Chương trình Áo ấm biên cương


Nhận ủng hộ, tại các địa chỉ:


Chủ Tài khoản: MAI THANH HAI


Số Tài khoản: 68683388 001 (VND), 68683388 002 (USD), 68683388 003 (EUR).


Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong- Chi nhánh Hà Nội


SWIF CODE: TPBVVNVX (dùng cho chuyển tiền từ nước ngoài về).


Hoặc có thể chuyển về Tài khoản của MẠC THANH HUYỀN (Phụ trách Tài Chính - Kế toán của Chương trình Áo ấm Biên cương):


- Mạc Thanh Huyền: Số Tài khoản 0011000093410, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VIETCOMBANK) chi nhánh Trung ương


- Mạc Thanh Huyền: Số Tài khoản 10820538385013, Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam (TECHCOMBANK) chi nhánh Hoàn Kiếm


- Mạc Thanh Huyền: Số Tài khoản 101010004384952, Ngân hàng công thương Việt Nam (viettinbank) chi nhánh Đống Đa


Đề nghị các nhà hảo tâm ghi rõ nội dung chuyển tiền: "Ủng hộ học sinh Tram Tấu".


Xin trân trọng cảm ơn!.


*BAN ĐIỀU HÀNH VÀ ĐẠI DIỆN CHƯƠNG TRÌNH Ở CÁC VÙNG MIỀN - ĐỊA PHƯƠNG


CHỦ NHIỆM: Mai Thanh Hải


Tel: 0989.066.681-0917.500.550; Email: thanhhai2006@gmail.com; FB: Mai Thanh Hải


Blog: http://maithanhhai.com - http://maithanhhaiddk.blogspot.com


HÀ NỘI

1/ Ms.Mạc Thanh Huyền (NXB Giáo dục): 0913.045.678; FB: Gà Xinh


2/ Ms.Lê Nguyễn Thanh Thúy (Trưởng Ban Điện tử, Báo Sức khỏe và Đời sống, Bộ Ytế): 0912.224.091; FB: Lê Nguyễn Thanh Thúy


3/ Ms. Phạm Hà (Giáo viên Trường Mầm non Thượng Thanh, Hà Nội): 01687.499.257; FB: Phạm Hà


4/ Mr. Ngô Duy Khánh (ĐHBK Hà Nội): 0972.515.245; FB: Béo Binh Bét


TP. HỒ CHÍ MINH

1/ Mr.Bùi Ngọc Quang (Giám đốc Cty Cổ phần Điện hoa trực tuyến): 0989.501.719; FB: Ngọc Quang Bùi


2/ Ms. Võ Nguyệt Quỳnh, Cty Truyền thông Sài Gòn): 0903.133.611; FB: Võ Nguyệt Quỳnh


TP. HẢI PHÒNG

Ms.Lê Thanh Hằng (Cty Bưu chính Viettel): 01638.883.939; FB: Thạch Lựu Mộc



TP. ĐÀ NẴNG

Mr. Bùi Ngọc Vinh (Trưởng phòng Kinh doanh, Cty Toàn Cầu Xanh): 0904.046.899; FB: Bùi Ngọc Vinh



PHÚ THỌ

Ms. Nguyễn Kim Chi (Trưởng Ban Điện tử, Báo Phú Thọ): 0904.886.666; FB: Kim Chi Nguyễn


ÁO MỚI KHÔNG CẦN LỢN CƯỚI





Mai Thanh Hải - Rất thấm thía câu: "Cười như địa chủ được mùa ngô", khi mỗi chuyến đi, chứng kiến cảnh bọn lít nhít đang phong phanh áo rách, run cầm cập, được khoác mũ áo mới xúng xính và cười như nắc nẻ, má phính đỏ hồng.



Với 62 đứa (40 Mầm non, 22 Tiểu học) của điểm Trường Háng Gàng (Pá Hu, Trạm Tấu, Yên Bái), cái câu này phải đổi chủ ngữ thành "đại địa chủ", bởi như lời cán bộ xã, giáo viên và phụ huynh thừa nhận: Từ hồi cha sinh mẹ đẻ đến giờ, lần đầu tiên đồng bào ở đây mới thấy áo mới, dày ấm và đẹp đến thế.


Chả thế mà lũ trẻ, khi được cô giáo Cúc dẫn qua đoạn hiên lớp học chênh vênh sườn núi, ra khoảnh đất bé tý, hiếm hoi được gọi là sân trường, mắt cứ tròn xoe nhìn đống áo - ủng xếp ngay ngắn, không đi nổi, khiến cô giáo phải hô đến rát họng, mới tập hợp được thành hàng ngay ngắn.



Thích nhất là lúc được mặc áo, đội mũ, đi ủng... đứa này sờ áo đứa khác, khoe màu này đẹp hơn màu kia, cứ rì rà rì rầm như tằm ăn rỗi, làm cô giáo cũng mê tơi, chả nỡ "dẹp trật tự"...


Chả thế mà lúc mặc áo xong, có phụ huynh đến đón con sớm. Đứng giữa đám trẻ xanh đỏ tím vàng, nhộn nhạo màu sắc, ngẩn ngơ tìm mãi không thấy con, đành thảng thốt gọi cô giáo để... đòi con, khiến tụi mình cười lăn lóc.


Mặc xong áo, ăn xong cơm, cả điểm Trường không đứa nào ngủ được, cô giáo Cúc đành cho chúng nó tự chơi, đỡ thèm "cơn" khoe áo mới.


Chả thế mà chúng nó chạy tung tăng khắp bản Háng Gàng, khoe tíu tít với mọi người, khiến bản Mông lưng chừng núi như có đám cưới, mổ nhiều con lợn và trên này, có áo mới, không cần lợn cưới, cũng cứ khoe...




TB: Ngay sau khi Đại diện Chương trình Áo ấm biên cương lên khảo sát việc xây dựng điểm Trường, kết hợp tặng quà (85 áo khoác, 40 ủng cho học sinh Háng Gàng, Pa Hủ) và có bài viết phản ánh đời sống, sinh hoạt, học tập của thầy và trò nơi đây, rất nhiều bạn đọc đã ngỏ ý được giúp riêng 5 điểm Trường của trong xã, để các cháu có tấm áo, đôi ủng, chiếc mũ mới đón Tết Nguyên đán.

Xét thấy điều kiện đặc biệt khó khăn của thầy trò xã Pá Hu, Ban Điều hành Áo ấm biên cương quyết định tổ chức 1 chuyến hàng, lên trao tận tay các học sinh ở toàn bộ 5 điểm Trường, với mức thụ hưởng như học sinh khu vực biên giới (trừ số lượng đã được nhận áo - ủng - mũ hôm khảo sát vừa qua): áo khoác chống lạnh; mũ len; ủng cao su; chăn bông; gối; vải bạt... và một số quần áo cũ đã qua sử dụng.


Do đặc thù của các điểm trường Pá Hu, ngoài số học sinh Mầm non - Tiểu học bán trú, còn có một số Mầm non 3-4 tuổi học Nội trú (đầu tuần gia đình trao học sinh cho giáo viên lo ăn ngủ các ngày trong tuần, cuối tuần mới từ trên núi xuống đón con) - chuyện không tưởng, chỉ xảy ra ở Trạm Tấu - nên cũng rất cần sự hỗ trợ về đồ dùng ăn uống, ngủ trưa và thực phẩm nấu bữa trưa cho các cháu.

Rất mong bạn đọc ủng hộ tiền để mua áo khoác, ủng cao su, mũ lên mới cho các cháu và đồ dùng sinh hoạt, ăn uống. Chúng tôi cũng xin tiếp nhận các thực phẩm phục vụ bữa ăn của các cháu (gạo - mì tôm, dầu ăn, đồ hộp, bánh kẹo, cá khô, mắm muối...).


Trân trọng cảm ơn mọi tấm lòng!.--------------------------------

Mọi sự ủng hộ và cập nhật, xin đọc tại: Chương trình Áo ấm biên cương

Nhận ủng hộ, tại các địa chỉ:


Chủ Tài khoản: MAI THANH HAI


Số Tài khoản: 68683388 001 (VND), 68683388 002 (USD), 68683388 003 (EUR).



Ngân hàng Thương mại Cổ phần Tiên Phong- Chi nhánh Hà Nội

SWIF CODE: TPBVVNVX (dùng cho chuyển tiền từ nước ngoài về).



Hoặc có thể chuyển về Tài khoản của MẠC THANH HUYỀN (Phụ trách Tài Chính - Kế toán của Chương trình Áo ấm Biên cương):

- Mạc Thanh Huyền: Số Tài khoản 0011000093410, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VIETCOMBANK) chi nhánh Trung ương

- Mạc Thanh Huyền: Số Tài khoản 10820538385013, Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam (TECHCOMBANK) chi nhánh Hoàn Kiếm

- Mạc Thanh Huyền: Số Tài khoản 101010004384952, Ngân hàng công thương Việt Nam (viettinbank) chi nhánh Đống Đa



Đề nghị các nhà hảo tâm ghi rõ nội dung chuyển tiền: "Ủng hộ học sinh Tram Tấu".



Xin trân trọng cảm ơn!.



*BAN ĐIỀU HÀNH VÀ ĐẠI DIỆN CHƯƠNG TRÌNH Ở CÁC VÙNG MIỀN - ĐỊA PHƯƠNG



CHỦ NHIỆM: Mai Thanh Hải

Tel: 0989.066.681-0917.500.550; Email: thanhhai2006@gmail.com; FB: Mai Thanh Hải




HÀ NỘI

1/ Ms.Mạc Thanh Huyền (NXB Giáo dục): 0913.045.678; FB: Gà Xinh

2/ Ms.Lê Nguyễn Thanh Thúy (Trưởng Ban Điện tử, Báo Sức khỏe và Đời sống, Bộ Ytế): 0912.224.091; FB: Lê Nguyễn Thanh Thúy

3/ Ms. Phạm Hà (Giáo viên Trường Mầm non Thượng Thanh, Hà Nội): 01687.499.257; FB: Phạm Hà

4/ Mr. Ngô Duy Khánh (ĐHBK Hà Nội): 0972.515.245; FB: Béo Binh Bét



TP. HỒ CHÍ MINH

1/ Mr.Bùi Ngọc Quang (Giám đốc Cty Cổ phần Điện hoa trực tuyến): 0989.501.719; FB: Ngọc Quang Bùi

2/ Ms. Võ Nguyệt Quỳnh, Cty Truyền thông Sài Gòn): 0903.133.611; FB: Võ Nguyệt Quỳnh



TP. HẢI PHÒNG

Ms.Lê Thanh Hằng (Cty Bưu chính Viettel): 01638.883.939; FB: Thạch Lựu Mộc



TP. ĐÀ NẴNG

Mr. Bùi Ngọc Vinh (Trưởng phòng Kinh doanh, Cty Toàn Cầu Xanh): 0904.046.899; FB: Bùi Ngọc Vinh



PHÚ THỌ

Ms. Nguyễn Kim Chi (Trưởng Ban Điện tử, Báo Phú Thọ): 0904.886.666; FB: Kim Chi Nguyễn





































































































Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012

Bài học lịch sử :


Lịch sử chiến tranh và quân đội đã chứng minh và khẳng định: Quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị để tiến hành đấu tranh vũ trang nhằm thực hiện mục đích chính trị nhất định. Bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy của quân đội phụ thuộc vào quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp, Nhà nước, đảng chính trị tổ chức ra quân đội. Không có quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị. V. I. Lê-nin đã chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản..., bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động” (1).

Năm 1991, Quân đội Liên Xô có một lực lượng hùng hâu với 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị vũ khí hiện đại bậc nhất, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược… Vậy nguyên nhân nào dẫn đến sự tan rã của Liên bang Xô-viết một cách chóng vánh ?

Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ nước Cộng hòa Xô Viết còn non trẻ, V.I.Lê-nin đã rất quan tâm xây dựng Hồng quân vững mạnh làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, trong đó Người đặc biệt chú trọng việc Đảng Cộng sản nắm vững quyền lãnh đạo với quân đội, coi đólà nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhờ kiên định nguyên tắc đó, Hồng quân và nước Cộng hòa Xô Viết đã vượt qua những thử thách vô cùng khó khăn của thời kỳ nội chiến chống các thế lực phản cách mạng cùng sự can thiệp của 14 nước đế quốc, tiếp tục vượt qua những gian nguy to lớn trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, làm nên những chiến thắng to lớn, một lần nữa khẳng định sức mạnh của quân đội kiểu mới, tác động rất lớn đến cách mạng thế giới.

Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối, nhất là từ khi ông M.Gooc-ba-chop làm Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô (1985-1991), những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân đội Liên Xô đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chiến lược, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội, làm cho quân đội bị «phi chính trị hóa và bị vô hiệu hóa «. Như vậy, chỉ trong khoảng hai năm từ năm 1987-1989, gần 50% cán bộ cơ quan chiến lược của quân đội và khoảng 30% tướng lĩnh bị cho ra quân, trên 100 cán bộ lãnh đạo chính trị cấp chiến dịch-chiến lược bị cách chức với lý do «tư tưởng bảo thủ, yếu kém, không ủng hộ cải tổ «… Đó là nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Xô-viết vào cuối năm 1991.

Bản chất cái gọi là “quốc gia hóa quân đội” ở Việt Nam

Quân đội nhân dân Việt Nam là một quân đội kiểu mới mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, đồng thời có tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thực tiễn gần 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã chứng minh và khẳng định: Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc quan trọng hàng đầu, bảo đảm cho quân đội ta luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc XHCN và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch tăng cường những âm mưu, thủ đoạn nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, tập trung bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, kích động khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của chỉ huy, hạ thấp vai trò của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong quân đội.

Thực chất của quan điểm “quốc gia hóa quân đội” là đòi quân đội phải trung lập, “phi đảng hóa”, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, làm cho quân đội mất định hướng chính trị, cơ chế lãnh đạo, chỉ huy bị suy yếu, bị tha hóa biến chất và mất sức chiến đấu; đồng thời làm cho Đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền, đưa đất nước lâm vào tình trạng mất ổn định và suy thoái. Trong khi truyền bá quan điểm “quốc gia hóa quân đội”, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối và nguyên tắc xây dựng quân đội của Đảng ta, bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thúc đẩy khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của người chỉ huy, hạ thấp vai trò và tiến tới bãi bỏ hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội. Có thể nói, quan điểm đòi “quốc gia hóa quân đội” của các thế lực thù địch rất hiểm độc, tập trung công kích thẳng vào một đặc trưng bản chất có ý nghĩa sống còn của quân đội kiểu mới.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, rút kinh nghiệm từ bài học từ lịch sử:

Trước những thách thức trên, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong thời kỳ mới, trước hết chúng ta cần tập trung cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, hệ thống định chế và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới; kiên quyết khắc phục nếp nghĩ “nuôi quân ba năm dùng một giờ”, coi việc xây dựng quân đội chỉ để dùng trong chiến tranh và lo đối phó với chiến tranh.

Cần thấy rõ sự thống nhất nhưng không đồng nhất trong cơ chế lãnh đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước đối với QĐND Việt Nam và Bộ Quốc phòng, trong đó đáng chú ý là cơ chế lãnh đạo, điều hành đối với Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị khác với các cơ quan Bộ Quốc phòng.

Cần phát triển và vận hành thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả các yếu tố hợp thành cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đảng thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội thông qua hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở cơ sở. Do đó, cần tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, chú trọng cấp ủy đảng ở cơ sở và cơ quan tham mưu chiến dịch – chiến lược; tập trung nâng cao năng lực quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết, chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ.

Cùng với đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có chiều sâu và độ bền vững, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, nhất là việc chấp hành nghị quyết và Điều lệ Đảng, chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chế độ công tác, quy chế và quy trình làm việc trên các lĩnh vực hệ trọng, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực.

Mặt khác, cần chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ huy và cơ quan chỉ huy tham mưu có tính đảng cao và bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn tốt, nắm vững và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, nội dung, quy trình và chế độ công tác chỉ huy tham mưu đồng thời am hiểu CTĐ, CTCT trong quân đội, có phương pháp, tác phong làm việc khoa học đáp ứng chức trách, nhiệm vụ được giao, thực sự là những “chỉ huy đỏ” gương mẫu, trung thành và tin cậy của Đảng.

-----* Cây Sung Dâu *-----

Hồ Ngọc Bảo Như

“Bố mẹ ơi, con đã vào Đảng rồi”.  Đấy là lời nói nghẹn ngào cảm xúc của tôi khi buổi kết nạp Đảng kết thúc.

Tôi còn nhớ như in, Đó là một kỷ niêm đáng nhớ của cuộc đời tôi, có thể nói đó là một bước ngoặc.

Ngay khi buổi kết nạp kết thúc, tôi gọi  ngay về nhà, khoe mình đã là một Đảng viên,  nghe được tin , bố mẹ mừng lắm, hai người đã rơi nước mắt,nghẹn ngào “ bố mẹ tự hào về con lắm”. Tôi đã thực hiện được mong ước mà bây lâunay bố mẹ tôi luôn ấp ủ. Đối với họ, Đảng như một đấng thiêng liêng và  cao cả. Mặc dù họ là những người nông dân sớm hôm trên ruộng  đồng  mà thôi. Cả đời bố mẹ đã tuyệt đối tin và luôn kiên định theo con đường mà Đảng đã chọn, ngay cả khi đất nước ta gặp khó khăn nhất. Bố mẹ ơi, con cảm ơn vì bố mẹ luôn đặt niềm tin vào con, thật sự bây giờ con đã hiểu rồi, sự lựa chọn của gia đình ta nói riêng cũng như  mọi người khác nói chung là một quyết định đúng đắn bởi vì thực tế đã chứng minh rất hùng hồn rằng:

Hơn 80 năm xây dựng và trưởng thành, lấy chũ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giương cao ngọn cờ độc lập và chũ nghĩa xã hội, vượt qua muôn ngàn khó khăn, thử thách, làm nên  những thành tựu vĩ đại: Đảng lãnh đạo nhân dân ta thắng lợi Cách mạng tháng 8, mở ra kỷ nguyên mới,kỷ nguyên của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến oanh liệt giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc,đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành  cách mạng dân tộc dân chủ  nhân dân, thực hiện thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chũ nghĩa xã hội.

Từ năm 1986, sau khi Đảng ta thực hiện chính sách mở cửa  hội nhập kinh tế thế giới. Kết quả thu được thật đáng kinh ngạc, cơ cấu kinh tế liên tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu, giải quyết được việc làm cho quần chúng nhân dân ; kinh tế hợp tác và hợp tác xã phát triển khá đa dạng . Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng kết hợp với sự nổ lực của quần chúng nhân dân ta đã mang lại cho Đất nước một vị thế mới. Từ một quốc gia bị phong tỏa, cấm vận; từ một nền kinh tế kém phát triển và “đóng cửa”, sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn mạnh ra thế giới. đến nay nước ta đã có quan hệ  với gần 170 nước và vùng lãnh thổ; mở rộng quan hệ quốc tế thương mại với 221 quốc gia. Phúc lợi xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân cũng được cải thiện. Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam về đích trước 10 năm với mục tiêu xóa đói, giảm nghèotrong thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ.

Nhờ  có Đảng mà không những bố mẹ tôi mà còn biết bao đồng bào ta đã thoát khỏi ách nô lệ, có được cuộc sống ấm no như ngày nay. Còn đối với cá nhân tôi, tôi muốn nói rằng” Đảng ơi, mãi mãi tôi cảm ơn ”. Nhờ có Đảng, tôi càng vững tin hơn trên con đường mà tôi đã chọn, mọi người hãy cùng tôi, cùng  Đảng  xây dựng Đất nước ngày càng giàu đẹp nhé.

Thứ Ba, 25 tháng 12, 2012

Hải An


Viết về hình ảnh người chiến sỹ bộ đội Biên phòng nơi biên cương của Tổ quốc, nhà thơ Chế Lan Viên đã có những vần thơ sau:

Ai đi biên giới cho lòng ta theo với
Thăm ngàn lau chỉ trắng có một mình
Bạt ngàn lau trắng ở tận cùng bờ cõi
Suốt một đời cùng với gió giao tranh.


Biên cương, hải đảo- những vùng lãnh thổ vô cùng thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Từ muôn đời nay, bao thế hệ nhân dân, chiến sĩ đã đổ mồ hôi, xương máu để gìn giữ vẹn tròn bờ cõi của đất nước. Đấy là nguồn cảm hứng dạt dào cho nhiều người cầm bút trong đó có các nhà thơ. Đã có không ít bài thơ giàu chất sống, nhiều cảm xúc viết về biên giới hải đảo mà người lính quân hàm xanh là nhân vật trung tâm.

Trong tâm hồn mỗi người dân, tình yêu biên giới luôn là phần sâu sắc không gì có thể thay thế được. Mỗi dòng suối, ngọn núi ở đây, dù bé nhỏ đến đâu cũng là Tổ quốc, là tài sản vô giá ông cha ta để lại. Những dân binh, chiến binh muôn đời nay đã kế tiếp nhau bền bỉ, can trường giữ gìn cương vực của non song.

Vùng đất, vùng biển phên dậu mãi mãi là ký thác thiêng liêng và vững bền của nhân dân về sự toàn vẹn lãnh thổ và trường tồn của đất nước. Xưa cũng thế và nay cũng thế; không thế lực nào, dù hung bạo mưu mô đến mấy làm suy suyển, dập tắt được. Nguyễn Đình Chiến trong bài thơ “Mùa xuân nơi hẹn gặp” đã viết: Biên cương ơi ký thác của bao đời/Người sống để cháu con về hái lộc/Thơ đã viết đầm đìa trên cột mốc/Câu thơ nào tâm huyết của riêng tôi…Nói đến biên phòng không thể không nhắc đến những cột mốc hữu hình và vô hình trên những cánh rừng, dòng sông hay vùng biển đảo xa xôi. Người lính biên phòng cũng là những cột mốc chủ quyền của đất nước cũng như Tổ quốc là điểm tựa vĩnh hằng của chiến sĩ ta. Bằng tâm thức như vậy, Vũ Hiệp Bình đã khẳng định: Với Tổ quốc, chúng tôi là cột mốc/Với chúng tôi, Tổ quốc là điểm tựa ngàn đời (Tổ quốc, biên giới và chiến sĩ biên phòng). Không gì đẹp hơn khi những chiến sĩ mang quân hàm lá cây là núi của núi, là sông của sông, là ruộng của ruộng, là đất của đất, là nước của nước nơi cương vực: Đất vẫn đất nâng cao thế đứng/Và đồng đội chúng tôi/Như cột mốc ngàn đời/Làm biên giới đất đai (Vương Trọng-Sáng chào cờ ở một đồn biên phòng). Con đường trập trùng, đầy gian nan thử thách mà những người lính ấy đi qua là những hành trình đỏ gìn giữ bình yên và gieo mầm cuộc sống mới nơi biên cương như Phạm Vân Anh đã phác họa rất đẹp: Đèo Sa Mù mây bay/ Chúng tôi đi trong hành trình đỏ/ Gieo xuống đất biên thùy hạt ban mai rực rỡ (Hành trình đỏ). Ở một góc nhìn khác của Phạm Thanh Khương, hành trình đỏ ấy mang những thương nhớ lo toan, khao khát ước mong của người lính hải đội biên phòng trên biển: Những con tàu xé sóng ra đi/Để lại bãi bờ những nét cười giấu trong nỗi nhớ/Giấu lo lắng trong từng nhịp thở/Nuôi ước mơ, nuôi khao khát con người (Qua triền con sóng)…

Có đến với bộ đội biên phòng mới thấu hết những khó khăn vất vả và những thiệt thòi, hi sinh thầm lặng của họ. Mỗi bước đi là mỗi gian lao, mỗi ngày sống là mỗi thử thách trước khắc bạc thiên nhiên, trước nghiệt ngã cuộc sống. Thơ Nguyễn Đức Lợi cho ta một hình dung về mùa hè tây bắc đất nước, nơi chưa bao giờ vắng bóng chiến sĩ biên phòng: Nay biên giới đang vào mùa bọ chó/Ruồi vàng bay rám cả vạt giang/Tai nóng giẫy từng cơn, từng cơn gió/Từ bên kia đất bạn đốt sang (Thư gửi từ biên giới). Trần Đăng Khoa có cái nhìn rất sâu, rất cảm và đầy chia sẻ nhân văn về những người lính biên phòng ở nơi núi cao heo hút: Những mùa đi thăm thẳm/Trong mung lung chiều tà/Có bao chàng trai trẻ/Cứ lặng thinh mà già (Đỉnh núi). Đâu chỉ trong chiến tranh mà ngay cả thời bình người lính vẫn phải chịu những thiệt thòi, lặng lẽ cống hiến hi sinh tuổi thanh xuân cho đất nước. Cuộc sống đời thường của người lính biên phòng cũng đầy gian khổ, thiếu thốn. Trong một lần lên biên cương, Hữu Thỉnh đã xúc động viết: Gạo thường lên sớm, thư thời chậm/Đài mở thâu đêm đỡ vắng hầm/Bao năm không thấy màu con gái/Vó ngựa nghe nhầm tiếng guốc em.(Thư mùa đông). Cái sự nhầm kia của người lính trẻ làm cho ta nghẹn ngào rưng rưng. Trong bài thơ “Trở về Bát Xát”, Lê Đình Cánh lại giúp ta thấy rõ hơn cảnh ngộ, gọi là thân phận cũng được của một cán bộ biên phòng: Về đâu bác trưởng đồn thâm niên thượng úy/Ngôi sao cầu may chưa đậu xuống vai già/Thân gà trống ngại ngùng đi bước nữa/Điếu cày khuya lưỡng lự vào ra! (Trở về Bát Xát)…

Giữa muôn vàn thử thách gian khó, hình ảnh chiến sĩ biên phòng hiện lên thật đáng yêu, đáng trân trọng. Những người lính ấy, vừa là chiến sĩ, vừa là thầy giáo, thầy thuốc và cũng là cán bộ thôn bản nữa. Thầy giáo biên phòng hiện lên trong thơ Trương Hữu Thiêm thật bình dị và gần gũi: Chấm bài nào thầy cũng cho điểm cao/Nếu không thế mai họ không đến lớp/Bài văn tả có người hồn nhiên viết/ “Thầy giáo biên phòng chăm như con trâu” (Lớp học biên phòng). Lính biên phòng là những người rất tình cảm. Tôi đã đến nhiều đồn biên phòng ở cả ba miền Bắc Trung Nam và cả biển đảo nên rất thấu hiểu điều đó. Những gì tôi cảm nhận được trong thơ viết về các anh trước hết bắt nguồn từ hồi ức kỷ niệm về bộ đội biên phòng sau các chuyến lên rừng xuống biển rất nhiều ấn tượng. Vì thế, tôi đồng cảm với Nguyễn Đức Nhuận trong bài “Màu đỏ miền Đông”:Trận địa miền Đông bịn rịn cánh cò/Công sự đỏ ngụy trang bằng màu đỏ/Dù đi đâu trai biên phòng vẫn nhớ/Nhận ra nhau qua màu áo riêng mình; của Doãn Tấn trong “Bài thơ tháng Ba”: Tháng ba đồng đội tôi ơi/Non xanh nước bạc ai người có nhau; của Nguyễn Xuân Thái trong bài “Sang suối”: Tôi bâng khuâng nhìn lại bóng mình/Mỗi một lần sang suối/ Dòng chảy nào cong hình dấu hỏi/ Trong xanh quá thôi sao chẳng dễ trả lời; của Trần Lâm Bình trong bài “Chốt biên phòng”: Chốt biên phòng/ Đường lên trời thì gần/Đường xuống chợ thì xa/ Mỗi lần tuần tra/Lính biên phòng gỡ mây giăng đầy tiếng mõ…

Có lẽ vì thế mà tôi cũng đã viết bài “Vợ lính biên phòng” trong lần lên đồn Bạch Đích (Hà Giang) năm 1998, có những câu: Gần chồng chẳng được mấy khi/ Xa chồng, lại nhớ ngày đi thăm chồng/Đường lên dựng núi nghiêng sông/ Cổng trời mây trắng bềnh bồng bám theo…và : Gặp chồng bao nỗi rưng rưng/Lời yêu thương lại ngại ngùng nói ra/ Bâng khuâng chuyện xóm, chuyện nhà/Chuyện con nhớ bố, chuyện bà nhớ anh…Nói sao hết những ngọn ngành/Về xuôi đôi chuyện dữ lành vướng theo/Ngước nhìn dáng đá cheo leo/ Bóng xưa đổ xuống đỉnh đèo mây bay…

Tôi nghĩ, thơ đã ký thác vào biên cương những yêu thương, khát khao và hy vọng của chúng ta!

Khi đọc những vần thơ viết về sự gian lao mà cũng đầy hào hùng về những chiến sỹ Biên phòng nơi  biên cương, hải đảo xa xôi của tổ quốc tôi chợt nghĩ đến hình ảnh thế hệ trẻ hôm nay. Các anh đã chiến đấu bảo vệ từng tấc đấc, dòng sông, ngọn núi nơi biên cương, đem lại sự vui tươi, an lành cho những người thân, gia đình và những người xung quanh. Sự cống hiến của họ vừa mang trong mình những lí tưởng, mục đích cao đẹp, vừa lí trí.

Thế hệ trẻ hôm nay có nhiệt huyết và thực sự họ đã, đang và sẽ đóng góp vào thành tựu chung của đất nước. Những bước chuyển mình của đất nước này có sự đóng góp của họ và công lao của họ đang được cả xã hội ghi nhận. Minh chứng là những giải thưởng, những buổi vinh danh..đều xuất hiện hình ảnh những người trẻ năng động, khát khao cống hiến cho xã hội. Sự cố gắng của họ hôm nay đóng góp vào vị thế của một Việt Nam hùng cường trong tương lai. Nhưng bên cạnh những con người như thế không ít những người trẻ họ thực sự lạc lối, hoang mang trong việc chọn lựa cách thức đóng góp cho đất nước. Họ đang tham gia vào những hoạt động mà họ không biết được bản chất của hoạt động đó trên thực tế, họ thực sự trở thành những con rối trong tay những nhà “rân chủ”, những nhà “tự do” giả hiệu. Chúng đang biến những trái tim nóng của những con người trẻ thành những con người tiên phong trong chiến dịch cổ súy cho những giá trị mới mà chính họ cũng không hiểu được giá trị ấy mới đến đâu, nó có lợi gì cho đất nước này.

Hãy là những khóm “hoa lau” nơi biên giới xa xôi – những khóm hoa lau vừa tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ nhưng cũng đầy tỉnh táo, phân minh trước sự đổi thay của thời cuộc./.

 

(Hồn Nhiên)

Bác ơi! Giờ ở đâu người ta cũng viết về biểu tình và người ta toàn biểu tình để chống trung quốc, để bảo vệ Hoàng Sa Trường Sa. Thế nhưng cháu muốn hỏi là tại sao công an lại bắt người biểu tình? Rõ ràng những người biểu tình đều thể hiện lòng yêu nước mà bác. Thứ 2, là có nên đi biểu tình không ạ, bạn bè rủ cháu đi mà cháu còn lượng lữ quá vì cháu nghĩ những lần biểu tình trước đều bị công an và cơ động đàn áp nhiều quá, nên cháu nghĩ là biểu tình là vi phạm pháp luật bác ạ. Với lại nếu thực sự biểu tình là yêu nước thì sao họ cứ phải phát tiền cho bọn cháu đi biểu tình ạ. Nhưng mà một số blog khác cháu lại thấy người ta bảo là biểu tình là quyền của công nhân và không ai có quyền ngăn cấm nó, điều đó được quy định rõ ràng trong hiến pháp đúng không bác.! Có phải nhà nước và đảng sợ biểu tình vì biểu tình có thể làm lộ bộ mặt tham những của những cơ quan lãnh đạo trong nhà nước không ạ?.. nhiều điều cháu thắc mắc lắm. nhưng chốt lại một câu trong bức thư dài dòng này của cháu là:: cháu có nên tham gia biểu tình không ạ?

Trả lời:

Cháu gái thân mến! thực ra bác rất vui vì có những thanh niên trẻ như cháu quan tâm đến tình hình nước ngoài và không sống vô nghĩa. Cháu là một thanh niên đầy trách nhiệm và biết cống hiến. thực ra bác không phải là một chính trị gia hay gì gì đó để trả  lời hết cho cháu những thắc mắc bằng những ngôn ngữ đúng nghĩa và mang chất chính trị

Nhưng một sự thật là việc công an, cơ động khống chế đoàn biểu tình là hành động đúng. Bọn phản động đang tích cực kích động dân ta sự hiềm khích với Trung Quốc để gây nhiễu, diễn ra các cuộc biểu tình chống Trung quốc liên tục. phía sau những màn biểu tình, là bộ mặt thật của bọn phản động và cũng có thể lắm chứ âm mưu thâm độc của bọn Tàu khựa.

Cuộc cách mạng hoa màu cháu nghe thấy bao giờ chưa, hay là cuộc cách mạng không tiếng súng, …đó là những cuộc cách mạng mà trong một nước sẽ tự diễn biến, xung đột nội bộ và tự tách rời nhau mất đoàn kết và từ đó các nước lớn sẽ nhảy vào nuốt trọn mà không tốn nhiều tiền, của, và vũ khí,… thế nên, chúng đang bắt đầu từ biểu tình, bắt đầu từ  những cuộc bạo loạn , để nhũng nhiễu và từ đó tách niềm tin của nhân dân khỏi đảng, lật đổ đảng, nhà nước… Điều nguy hiểm nhất là kiến thức của dân ta về biểu tình không nhiều, nhiều lớp thanh niên không ý thức được như cháu, thế nên giờ đây việc biểu tình trở thành một kế hoạch hoàn hảo của bọn phản động lợi dụng và kích động

Cháu thân! Yêu nước có nhiều cách để thể hiện, việc cháu ra sức học tập cũng là một biểu hiện của lòng yêu nước. biểu tình là quyền của công dân, nhưng điều đó phải có lợi cho nước nhà và làm nước nhà đi lên, chứ không phải là những cuộc biểu tình vô nghĩa chống trung quốc trên chính nước nhà, điều đó có nghĩa là chúng ta đang tự giết lẫn nhau trước tiếng cười mịa mai của bọn phản động.

Nhà nước đang kiềm chế hiềm khích của dân với trung quốc để từ đó giải quyết một cách êm đẹp trong hòa bình.

Thế nên. Con đường của đảng và nhà nước đều có ý ngĩa đối với cuộc sống của chúng ta. Chúng ta nên tôn trọng và làm tròn trách nhiệm của mình. Kết luận cuối cùng của bác là cháu không nên đi biểu tình nhé. Như thế sẽ bất lợi cho nước ta, chúng ta không thể vì một hiềm khích nhỏ mà để ra chiến tranh

Chủ Nhật, 23 tháng 12, 2012

Lo sợ trước nguy cơ “cáo chung của chủ nghĩa tư bản”, gần 60 năm qua, từ sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa tư bản đã bắt đầu một cuộc “chiến tranh thông tin- tâm lý” mang tính chất toàn cầu nhằm vào chủ nghĩa xã hội. Đó là cuộc chiến không khói súng, ở đó người ta không sử dụng những vũ khí chiến lược, tối tân, thế hệ mới nhất, mà sử dụng những phát kiến khoa học quy mô lớn để nghiên cứu phương thức tác động vào những đặc điểm của ý thức xã hội, tạo ra những đòn tấn công vào những vùng ý thức đã được mã hóa một cách tự động. Đối tượng bị tác động không nhận thấy sự biến đổi ý thức của cính mình, mọi việc xảy ra ngoài ý muốn của họ, vượt qua tầm điều khiển ý thức của chính họ. Thủ đoạn sử dụng ngôn ngữ và các biểu tượng bằng lời nói nhằm tác động lên tư duy là một thủ đoạn tâm lý trong cuộc “chiến tranh thông tin tâm lý” chống chủ nghĩa xã hội của các thế lực thù địch.

Tư duy trừu tượng được thực hiện thông qua các biểu tượng. Có thể hiểu đơn giản là ý nghĩa chứa đựng, hàm ý trong những khái niệm bằng lời. Nói cách khác, đó là những thủ đoạn sử dụng ngôn ngữ, hay có thể gọi là lối “chơi chữ” của các thế lực thù địch.

Các thế lực thù địch đưa ra ý tưởng trong một cái vỏ bọc xấu để người dân có phản ứng chống lại và lên án ý tưởng đó mà không xem xét bằng chứng. Chúng thâm độc trong việc vu cáo, “chứng minh” tham nhũng như một thuộc tính cố hữu, không thể tách rời của Đảng cộng sản. Bằng cách này, chúng âm mưu làm cho Đảng cộng sản bị ấn tượng xấu và mất dần uy tín.

Liên tưởng một đề nghị với lời lẽ đức hạnh để người dân chấp nhận đề nghị đó mà không xem xét bằng chứng. Chúng lập luận những điều tốt đẹp về xã hội dân chủ, rồi kích động đòi hỏi cải cách chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng đối lập, cho rằng như thế mới thật sự là dân chủ.

Dẫn lời các quan chức, vì uy tín, quyền hạn và sự nổi tiếng của họ sẽ làm những điều nói ra được tôn trọng hơn, dễ chấp nhận hơn. Chúng giả dẫn lời quan chức hoặc săn tìm những lời không hay của họ để đưa tin sai lệch, tung luận điệu trong Đảng ta có phe phái…

Một người được kính trọng hay bị ghét bỏ đưa ra những nhận định, để những nhận định đó được quy gán là tốt hay xấu. Lợi dụng việc tiên đoán của nhà ngoại cảm để “bịa chuyện như thật” nhằm làm cho người dân hoang mang, tin theo những nhận định hoang đường ấy.

Cố gắng thuyết phục người nghe rằng chúng và những lời đề nghị tốt đẹp của chúng là phục vụ nhân dân, “xuất phát từ lợi ích của nhân dân”. Chúng kêu gọi thành lập những “nhà nước” bất hợp pháp với chiêu bài “phục vụ lợi ích của đồng bào”…

Lựa chọn những sự thật hay điều dối trá, lô- gich hay phi lô- gich để đưa ra tình huống tốt nhất hay xấu nhất cho một đề nghị, một chương trình, một con người nhắm gây ấn tượng mạnh. Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn này trong các cuốn “hồi ký”, “nhật ký” với mục đích bôi nhọ lãnh đạo, kích động gây chia rẽ lãnh đạo cấp cao của Đảng.

Cố gắng thuyết phục người dân rằng tất cả các thành viên trong nhóm của họ đã chấp nhận đề nghị của chúng, vì thế họ phải chạy theo số đông và “chạy theo đầu tàu”. Thủ đoạn này chúng thường xuyên sử dụng trong hoạt động truyền đạo trái phép, lôi kéo đồng bào một số dân tộc thiểu số vào những tổ chức phản động…

Thủ đoạn của các thế lực thù địch thực rất tinh vi, xảo quyệt, khó nhận biết. Cần tỉnh táo để có thể nhận dạng được những âm mưu thâm độc của kẻ thù, giống như nhà triết học người Đức Erist Kassirer từng nói: “Để chiến thắng kẻ thù, chúng ta phải biết về nó”.

--------------------MẶT TRỜI HỒNG-----------------


Thứ Bảy, 22 tháng 12, 2012

Trên văn đàn lý luận chính trị trong những năm gần đây xuất hiện cụm từ mới: “tự diễn biến”, “tự diễn biến hòa bình” như là một hệ quả của “diễn biến hòa bình”- một chiến lược chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

“Tự diễn biến” là khái niệm chỉ sự vận động bên trong của mọi sự vật hiện tượng. Quá trình vận động ấy tuân theo những quy luật nhất định, bị chi phối và là kết quả tổng hợp của những nhân tố khách quan và chủ quan. Quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo hai hướng tích cực hoặc tiêu cực, phát triển hoặc tan rã. “Tự diễn biến” ở đây là khái niệm chỉ sự tan rã của sư vật hiện tượng, làm biến đổi bản chất theo hướng tiêu cực, bản thân không phải là nó nữa mà trở thành một sự vật, hiện tượng khác.

“Tự diễn biến” không phải là một bước đột biến tức thì mà là một quá trình diễn ra dần dần, tích “lượng” thành “chất” cho đến khi làm biến chất xã hội. Quá trình này diễn ra trên nhiều lĩnh vực: chính trị- tư tưởng, kinh tế- xã hội, văn hóa- tinh thần,… trong cả đối nội và đối ngoại; khó phân biệt rạch ròi và thúc đẩy cho nhau trong cùng một hướng đích làm biến chất chế độ xã hội. Sự biến chất của chế độ nếu xảy ra sẽ là “kết quả” tổng hợp của “tự diễn biến” trên các lĩnh vực, mà trực tiếp là “tự diễn biến” trên lĩnh vực chính trị, diễn biến ngay trong nội bộ hệ thống chính trị.

“Tự diễn biến” là quá trình diễn ra dần dần, từ ít đến nhiều, từ nhỏ đến lớn, “tích tiểu thành đại”, rất phức tạp, khó phân biệt, dễ lẫn lộn giữa đúng và sai, giữa tích cực và tiêu cực. “Tự diễn biến” là một hiện tượng, mà sự nảy sinh và phát triển của nó có những nguyên nhân khách quan và chủ quan nhất định.

Nguyên nhân khách quan:

Nguyên nhân trực tiếp là từ chiến dịch “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Mức độ “tự diễn biến” là tiêu chí đánh giá “hiệu quả” của “diễn biến hòa bình”. Song, mức độ “tự diễn biến” như thế nào phụ thuộc vào sức đề kháng và sức mạnh của chính chúng ta.

Nguyên nhân chủ quan:

Một là: Do hạn chế về trình độ trí tuệ, năng lực thực tiễn. Là nguyên nhân thuộc về nhận thức. Không nhận thức được sự đúng, sai, đâu là lạc hậu, đâu là tiến bộ trước sự diễn biến, biến động phức tạp trong hiện thực của các hiện tượng chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Hai là: Do sự thoái hóa về phẩm chất đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ đảng viên. Đó là thứ giặc nội xâm vô cùng nguy hiểm. Từ sự thoái hóa về phẩm chất đạo đức lối sống trở thành kẻ phản bội là nguy cơ dễ xảy ra, gây nguy hiểm cho cách mạng.

Ba là: Do mất đoàn kết nội bộ. Nội bộ mất đoàn kết, kèn cựa, tranh giành địa vị, chia bè chia phái, làm xuất hiện những nhóm người chống đối lẫn nhau. Mất đoàn kết nội bộ sẽ làm cho nội bộ suy yếu, mất sức đề kháng, tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp thúc đẩy “tự diễn biến”.

V.I.Lênin từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”. “Tự diễn biến” là hết sức nguy hiểm, nhưng chắc chắn chúng sẽ không thể phát triển đến mức làm biến chất chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta, bởi điều đó phụ thuộc vào chính chúng ta, vào khả năng đề kháng và sức mạnh cơ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa.

-------------Mặt trời hồng--------------


Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2012

Hồn Nhiên

Nếu chiến tranh xảy ra, nó sẽ sẽ phá hủy tất cả, hạnh phúc, gia đình, tình yêu và cả những ước mơ. Chúng ta sẽ không thể để chiến tranh xảy ra thêm một lần nào nữa. Chúng ta không thể còn chứng kiến thêm cái cảnh tang tóc, hay bom đạn nhấn chìm nước ta trong khói lửa. Sẽ đau thương lắm nếu chiến tranh xảy ra, chúng ta phải sống tách xa nhau , phải xa rời những người thân của ta. Và sẽ ra sao đây, chiến tranh xảy ra, những đứa trẻ sống trong máu me và chết chóc, ước mơ của chúng sẽ bị phá tan.

Chúng ta phải sống ẩn nấp dưới bóng quân thù, chúng ta phải sống trong sự sợ hãi và rồi chúng ta lại tan tác chứng kiến những người thân của chúng ta ra đi từ từ. Và rồi sẽ ra sao nữa đây, chiến tranh sẽ cướp đi tất cả, những cánh đồng tỏa ngát hương những con đường mới đổ, những mái nhà mới xây, và những hạnh phúc và tình yêu mới chớm nở.

Chiến tranh xảy ra, sẽ còn đâu tiếng cười trẻ thơ nô đùa trong khuôn viên trường học, còn đâu đám sinh viên líu lo, ríu rít trên đường với tà áo dài bay phới phới, còn đâu tiếng mấy bà đi chợ buôn dưa suốt sáng đến chiều, còn đâu mấy cụ già tập dưỡng sinh chiều chiều. Nếu chiến tranh xảy ra, bầu trời kia ngập khói của bom đạn, đêm đêm là tiếng rầm rầm của tiếng máy bay.

Sẽ không có chiến tranh chứ? Chắc chắn là thế rồi, chúng ta sẽ không thể để cho chiến tranh xảy ra, chúng ta sẽ không để cho chiến tranh đến thêm một lần nào nữa, không để nó đến và cuốn đi tất cả những gì đang thuộc về chúng ta.

 

 


Capture



Mẹ à! Nhanh thật, vậy mà cũng 4 năm rồi – kể từ ngày con gái Mẹ lên đường đi học, đến với mảnh đất Hà thành, tạm xa rời quê hương, xa gia đình, xa Bố Mẹ, xa em… Cũng những bỡ ngỡ, lạ lẫm nơi mảnh đất thị thành, con bắt đầu sống với một môi trường mới, con bắt đầu học cách sống, cách ứng xử với thế giới xung quanh… Và giờ đây con là sinh viên năm cuối. Con đang bắt đầu cho một kết thúc – bắt đầu năm học cuối của quãng đời sinh viên. Sẽ thế nào mẹ nhỉ!

Con muốn viết cho Mẹ, muốn dùng những dòng chữ yêu thương để gửi đến người mà con yêu nhất, thương nhớ nhất. “Trồng cây sắp đến ngày hái quả”, số phận nghiệt ngã không để Mẹ kịp thấy con về trong ngày “vinh quy bái tổ”, chẳng kịp để con gái có cơ hội được đền đáp phần nào công ơn dưỡng dục của Mẹ! Cú sốc tinh thần đến với con vào những ngày tháng 2 năm 2011, gần cuối năm học thứ 2. Con đã “liêu xiêu” một khoảng thời gian không phải là ngắn ngủi, cũng bị ảnh hưởng ít nhiều trong việc học tập, rèn luyện. Những tháng ngày ấy con chìm đắm trong nước mắt và “kiệt quệ” về tinh thần. Con che đi giọt nước mắt chảy dài, ít ai biết con đã tủi thân thế nào với những đêm dài gần như thức trắng, rồi con lăn lộn trong giấc mơ với nỗi nhớ Mẹ đến cồn cào, nó xé vào tâm can con. Con cũng không nhớ con đã gạt nước mắt để vực dậy thế nào, nỗi nhớ Mẹ, xót Mẹ không bao giờ hết nhưng con sẽ tìm những niềm vui để lấp vào khoảng trống ấy.

Con ít chia sẻ với bè bạn về những nỗi đau, con đã tìm đến cuốn nội san trường con, nơi mà Mẹ đã đón nhận những niềm vui khi “kịp” đọc 1, 2 bài viết của con. Con thấy Mẹ vui lắm. Vì vậy con quyết định sẽ viết tiếp, viết thật nhiều để làm món quà tặng Mẹ, dù biết rằng Mẹ không thể đọc những dòng ấy, và viết văn – chia sẻ nguồn cảm xúc, giúp con thấy thanh thản, nhẹ nhàng hơn. Có ai đó đồng cảm với con, ai đó ủng hộ, ai đó góp ý, ai đó nói những điều không hay… Nhưng mặc, mình đâu thể làm hài lòng tất cả moi người phải không Mẹ? Con chỉ muốn là chính mình thôi!

Mẹ à, nhiều khi con cứ thèm được gọi một tiếng Mẹ ơi, thèm được Mẹ gọi con thân thương là Luých Diệp (đây là câu chuyện dài gắn với một kỷ niệm của Mẹ con mình Mẹ nhỉ!). Đã 2 năm con thiếu vắng tình cảm Mẹ hiền. Con ghen tị với bạn bè khi nghe mọi người ríu rít kể kể, nói nói, tâm sự chuyện Mẹ và con gái. Con thèm Mẹ khi ai đó sau kỳ nghỉ dài lại đem theo những lọ muối lạc, lọ cà, lọ ruốc Mẹ làm, hay những quả cam, bó bún Mẹ gửi qua xe ôtô… Những kỳ nghỉ con ít về, đâu phải con không nhớ nhà, chỉ vì về nơi ấy là nỗi xót xa trong lòng con lại dâng lên, nỗi nhớ Mẹ lại cồn cào. Cứ tưởng tượng về mái nhà thân thương ấy không có bóng dáng Mẹ là con lại nghẹn ngào. Và rồi, đêm trước ngày xuống trường con lại thao thức, ngày mai… Chẳng ai thức dậy sớm cùng con, chẳng ai đem đồ giúp con, tiễn con, vẫy tay chào con… Đây là đáp án cho những câu hỏi “ngỏ” bạn bè thường hỏi mà con chẳng biết nói làm sao…

Mẹ của con yêu văn. Sở thích viết văn – đó là điểm chung giữa 2 mẹ con mình, thật tuyệt khi con tìm thấy ở Mẹ niềm đồng cảm, rung động. Mẹ con mình đã cùng cảm nhận thế giới, cùng vui buồn mẹ nhỉ! Những tháng ngày đi học xa nhà, Mẹ gửi cho con những lá thư tay, động viên, khích lệ con. Con đã giữ những lá thư ấy như một vật kỷ niệm. Con yêu chúng như yêu Mẹ vậy. Con đã giở ra gấp lại hàng ngày để được nhìn thấy những dòng chữ Mẹ viết, để cảm nhận yêu thương, và để an ủi rằng Mẹ luôn bên con…

Mẹ biết không, suốt 2 năm trời, con mải mê tham gia những cuộc thi viết. Đó là “Nét bút tri ân”  với bài viết “với Mẹ, con là tất cả”, và “Bố trong trái tim con”; đó là cuộc thi “Bạn đọc và cuộc sống” với bài viết “Mẹ và kí ức ngày xuân”; Viết về “thành công và hạnh phúc trong cuộc sống” với bài viết “con gái nói với Bố Mẹ…”… Và thật nhiều cuộc thi khác. Dẫu rằng chẳng bao giờ có kết quả nhưng con vẫn vui vì được chia sẻ và tìm thấy sự đồng cảm, vì được viết về Mẹ cho thỏa nỗi nhớ và con vẫn viết để luyện thêm những kỹ năng mới, chẳng bao giờ là thừa phải không Mẹ!

Mẹ đã là nguồn “cảm hứng” vô tận để con viết trong những trang văn trường con. Cảm ơn Mẹ vì điều đó. Với bài viết này con muốn trích một lá thư Mẹ đã viết gửi con vào những ngày đầu con đến với ngôi trường mới để chia sẻ với bạn bè. Bởi trong lá thư ấy chưa đựng những tình cảm của người Mẹ vĩ đại. Mẹ cho phép con Mẹ nhé!

“Phúc Sơn, tháng 10 – 2009


Luých Diệp, con gái yêu của Mẹ!


Mẹ có cảm giác tháng 10 này – thời gian nó như kéo dài lê thê ra vậy. Hay là đang

 

 thử thách lòng quyết tâm con người ta? Và con có đang trong tâm trạng đó – buồn và nhung nhớ! Cố gắng con nhé! Bước đầu có nhiều thiếu thốn song dần dần con sẽ thích nghi với điều kiện sống và học tập trong môi trường mới ấy!

Luých Diệp con yêu! Con có nhớ nhà, nhớ Bố Mẹ và em không? Mẹ nhớ con nhiều lắm. Ngày mà con “cất bước” lên đường, mẹ không thể ở lại đễ tiễn chân con, bởi Mẹ sợ sự ủy mị, sợ cảnh chia tay…sẽ nấc nghẹn và làm chùn bước con đi, để rồi đêm về Mẹ thổn thức chập chờn bóng hình con. “Bé con” – mặt trời hồng của Mẹ, mới ngày nào miệng còn bi bô tập nói, chập chững những bước đi đầu tiên…đến bên Mẹ đòi Mẹ bế ẵm, vỗ về. Mẹ luôn dõi theo từng bước con đi và mừng vui khôn xiết khi thấy con ngày một lớn dần. Giờ đây, con gái Mẹ đã lớn, biết nghĩ suy mọi điều. Thế rồi, một cảm giác mơ hồ sợ hãi chợt dâng lên trong lòng Mẹ, nỗi cô đơn ùa về xâm chiếm lòng Mẹ. Sợ con vuột khỏi vòng tay Mẹ!

Luých Diệp con!

Mẹ hiểu nỗ lực của 12 năm đèn sách “dùi mài kinh sử” là cả một quá trình con miệt mài, nỗ lực phấn đấu từng bước, từng bước vượt bậc, đó chẳng phải là một thành quả xứng đáng sao? Cảm ơn thượng đế đã ban tặng cho cuộc đời Mẹ 2 đứa con yêu! Cảm ơn con nhé! Có thể nói: Con gái Mẹ đã làm được một điều “phi thường” với đầy đủ ý nghĩa của nó. Hỏi dễ có mấy ai đã giành được điều phi thường ấy ở cái xã “đặc biệt khó khăn” vùng sâu vùng xa này? Những năm trước đây, Mẹ đi làm giữa trời nắng chang chang – cái nắng như đổ lửa, áo quần ướt sũng vì mô hôi thấm ướt, thấy con chăm chỉ học hành Mẹ như quên hết nhọc nhằn. “Với Mẹ, con là tất cả”. Mẹ luôn hãnh diện và tự hào về con! Con biết không, giờ Mẹ ra đường, lắm hôm gặp những người vui tính họ thường vui rằng: “Xin chào – người Mẹ vĩ đại của chiến sĩ Công an”. Thế đó con ạ! Mẹ vui lắm. Người chiến sĩ Công an nhân dân – sứ mệnh mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân luôn đặt niềm tin, trọng trách nặng nề nhưng rất đỗi vinh quang lên đôi vai thế hệ các con, những người như con gái Mẹ đó! Nhưng con ơi, hôm nay mới chỉ là bắt đầu “một ngày mới” – dẫu biết có bao điều tốt đẹp và thử thách đang đợi con phía trước…chắc con cũng hiểu công việc và cảm giác của người mà “ba mươi năm mấy ai chào hỏi” Và sau này – con cũng muốn mình sẽ làm được những điều lớn lao hơn để có một vị thế trong xã hội? Mẹ luôn kỳ vọng ở con! Mẹ mong rằng con sẽ cố gắng thật nhiều trong học tập, tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng, phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ Công an nhân dân: Sống giản dị, khiêm tốn, trung thực, hòa đồng với mọi người con nhé!

Mẹ gửi tới con và những chiến sĩ trẻ trên “mặt trận” học tập, rèn luyện những lời chúc mừng chân thành nhất, chúc các con – lớp người trong ngành Công an nhân dân – những chiến sĩ bảo vệ bình yên hạnh phúc của nhân dân sẽ luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó!

Thương và nhớ con rất nhiều!”

Vết đau trong trái tim con chưa lành, nỗi nhớ thương về Mẹ không bao giờ là đủ. Nhưng Mẹ ơi, con xin khép lại một phần những nhói đau, một phần mất mát ấy. Chìm đắm trong tuyệt vọng đâu phải là con đường để con gái Mẹ đi phải không Mẹ? Con sẽ nhớ Mẹ trong những giấc mơ, nhớ Mẹ trong những câu chuyện kể của người hàng xóm, trong những dòng chữ thân thương Mẹ gửi gắm cho con, và nhớ Mẹ trong sâu thẳm trái tim bé bỏng của con. Ngàn lần muốn nói lời con yêu Mẹ rất nhiều. Cảm ơn vì Mẹ đã là Mẹ của con!

----- *Mơ Xanh* -----

Capture


Tượng anh hùng Vũ Xuân Thiều


 Vũ Xuân Thiều (1945 - 1972): Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam. Quê gốc huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Anh đang học năm thứ ba khoa Vô tuyến điện, trường Đại học Bách khoa Hà Nội thì tình nguyện nhập ngũ năm 1965 và được tuyển đi học lái máy bay ở Liên Xô. Năm 1968 anh về nước, biên chế vào Đoàn bay 921 rồi chuyển sang Đoàn 927 Không quân Việt Nam.

Đồng chí được tặng thưởng 1 Huân chương chiến công hạng ba. Ngày 20 tháng 12 nănm 1994, Vũ Xuân Thiều được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, hiện nay có một đường phố ở quận Long Biên đã được mang tên Vũ Xuân Thiều.

Trung tuần tháng 12 năm 1972, đế quốc Mỹ mở rộng cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B52 vào thành phố Hà Nội và Hải Phòng, Vũ Xuân Thiều cùng đồng đội quyết tâm diệt B52. Để đánh chắc thắng anh đề xuất phương án công kích gần, mặc dù có khả năng nguy hiểm cho cả máy bay và người lái. Vậy là phi công Vũ Xuân Thiều cùng chiếc Mig 21 cất cánh từ Sân bay dã chiến Cẩm Thủy trong điều kiện đường băng hẹp ngắn, ánh sáng hạn chế, đó là một kỳ công. Rời sân bay quyết tâm diệt B52 của Vũ Xuân Thiều càng như được củng cố chắp cánh thêm nhờ tài trí của các bộ phận dẫn đường dưới mặt đất.

Phi công Vũ Xuân Thiều được Sở chỉ huy dẫn bay về phía biên giới Việt - Lào, sau đó giữ đường bay gần song song với đường bay của B.52 đang từ hướng Thanh Hóa bay ra vùng Tây Bắc. Lúc 21h56', Vũ Xuân Thiều được dẫn bay qua biên giới Việt - Lào, hướng về vùng trời Yên Châu. Một phút sau, phát hiện được mục tiêu nhưng anh đã ở quá gần. Không thể bay vượt qua rồi mới vòng lại công kích, bởi như vậy đối phương sẽ phát hiện ra và kịp thời đối phó. Mặc dù ở cự ly gần, chàng phi công trẻ vẫn xin công kích. Quả tên lửa thứ nhất rồi quả thứ hai phóng đi về hướng chiếc B.52. Chiếc máy bay B.52 bị thương lạng đi nhưng vẫn cố lao về phía mục tiêu thực hiện ý đồ trút bom xuống Hà Nội. Không một giây chần chừ, Vũ Xuân Thiều liền tăng tốc lao thẳng chiếc Mig 21 vào chiếc B.52 còn đầy bom chưa kịp trút xuống. Một tiếng nổ long trời lở đất, hai quầng lửa bùng lên sáng rực bầu trời rồi rơi xuống biên giới Việt-Lào.

Người trai Hà Nội Vũ Xuân Thiều đã tạo nên một vầng sáng chiến công chói lòa cùng chiếc Mig 21 lao vào B52 trên bầu trời Sơn La đêm 28-12- 1972.

Phút giây anh hùng Vũ Xuân Thiều lao thẳng vào pháo đài bay B.52 đã thành thiên anh hùng ca trong 12 ngày đêm vô tiền khoáng hậu cuối năm 1972. Vũ Xuân Thiều đã anh dũng hy sinh nhưng vẫn còn đó tinh thần và ý chí bất diệt của anh!

Cây Sung Dâu

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2012

(Trích: trelangblogspotcom.blogspot.com)

Người Buôn gió trong bài “Hãy khen và tự khen mình” đã trích một câu nói của Hồ Chí Minh để cho rằng Hồ Chí Minh đã tự dùng bút danh CB để tự khen mình.


Đại tá Nguyễn Biên Cương trả lời như sau:


Câu nói mà Người Buôn gió trích dẫn: “Cụ Hồ là Chủ tịch cả nước, lại có tuổi, luôn nói các cụ, các ngài…” lấy từ một bài viết của Bác đăng trên báo Sự thật số 79 ngày 26/06/1947. Ở bài này, Bác dùng bút danh là AG chứ không phải là CB (Xin xem Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, trang 162, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2009) như Người Buôn gió đã “vô tình” nhầm lẫn để tha hồ suy diễn bút danh CB là “Của Bác” làm bổ trợ yểm đỡ cho sự xúc xiểm thâm hiểm hòng toan tính hạ bệ thần tượng của dân tộc mà “anh em, chiến hữu” của Người Buôn gió nỗ lực hơn 30 năm qua vẫn chẳng nhằm nhò gì.


Việc viết sai tên tác giả, một “nhầm lẫn” không đáng có, kèm theo sự trích dẫn, cắt xén có chủ ý khiến người ta khó có thể nghĩ rằng, Người Buôn gió chưa thật hiểu rõ câu nói đó ra đời trong hoàn cảnh, văn cảnh, ngữ cảnh, giá trị thực của nó. Thực chất, đó là bài báo của Bác có nhan đề: “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền” viết từ năm 1947, nghĩa là khi cách mạng mới thành công, trình độ cán bộ ta nói chung, nhất là cán bộ cơ sở, còn rất nhiều hạn chế. Với tính cách là một nhà báo, người viết có quyền dùng các phương pháp khác nhau để diễn đạt sao cho người đọc dễ hiểu, dễ tiếp thu. Ví dụ, trong đoạn văn này, Hồ Chí Minh, nhà báo A.G viết: “Thường những anh em đến nói trong một cuộc mitting, mở miệng là “các đồng chí”. Ba tiếng đó không phải là vô phép, nhưng vì nó không hợp hoàn cảnh nên nó chướng tai. Một hôm tôi có đến dự một cuộc mitting đã thấy một kinh nghiệm như vậy – Một cụ già nói khẽ với tôi: “Cụ Hồ, Chủ tịch cả nước, lại có tuổi, thế mà cụ luôn luôn: “Thưa các cụ, các ngài.v.v. Đằng này, các cậu thanh niên bằng lứa cháu chúng mình mà có ý muốn làm thầy chúng mình”. Đó là một điều nên chú ý”. Chỉ có thế mà Người Buôn gió “chộp giựt” lấy được: “Trong phong trào học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, chúng ta nên học thêm đức tính khen và tự khen mình nữa mới đầy đủ tư tưởng và đạo đức của lãnh tụ kính yêu”. Đây thực sự là một ý đồ xuyên tạc tưởng rằng “khôn lỏi”, “ranh ma” nhưng kỳ thực vô cùng tiêu nhân, bì ổi của kẻ có nhân cách thấp hèn.


Trở lại với bài báo của Bác, tác giả A.G viết: “Đến địa phương nào, cần phải đi thăm các cụ phụ lão, các người phụ trách, rồi đi thăm các nhà đồng bào để gây cảm tình và để hiểu biết tình hình địa phương. Đó là một việc cần cho tuyên truyền. Người tuyên truyền cần phải chịu khó, chịu khổ, khéo ở, siêng làm. Chớ tưởng rằng: Đi phớt qua địa phương, diễn thuyết một hai giờ đông hồ mà có kết quả…Khi tiếp xúc với dân: thái độ phải mềm mỏng; Đối với cụ già phải cung kính, với anh em phải khiêm tốn, với phụ nữ phải nghiêm trang, với nhi đồng phải thân yêu….Thấy dân làm gì, bất kỳ to nhỏ, ta cũng phải làm giúp. Đó là cách gây cảm tình tốt nhất, nó sẽ giúp cho việc tuyên truyền kết quả gấp bội. Mong anh em đi tuyên truyền làm đúng như thế, thì chắc chắn sẽ thành công to…” (Xin xem Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 5, trang 162, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2009) Rõ ràng đây là một bài viết giản dị, sinh động, có tác dụng thiết thực trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng đã được Người Buôn gió hăm hở “phát kiến” rằng “Chủ tịch Hồ dùng bút danh khác khen Hồ Chí Minh (tức khen bản thân mình) chỉ nhằm mục đích duy nhất nâng cao bản thân mình trong mắt nhân dân”. Cả một kho tàng lý luận, bài viết đồ sộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người Buôn gió đã tìm được “sơ hở” để phản bác được sự nghiệp, nhân cách cao quý của một con người. Có lẽ anh ta không đủ “mở lòng” để hiểu điều vô cùng giản đơn là, một người như Hồ Chí Minh, từng nổi tiếng khắp thế giới và kể từ ngày lập nước luôn chiếm trọn niềm tin yêu, lòng tôn kính của toàn dân tộc thì có cần phải có một bài viết để tự đề cao mình?. Đặt mình trong bối cảnh lịch sử đó, cả thế hệ người lính chiến đấu chống Pháp, Mỹ luôn tự hào vì mình là “Bộ đội cụ Hồ”, cả kho tàng văn học, thơ ca, nhạc họa không chỉ của người Việt Nam mà vô số dân tộc bị áp bức trên thế giới đều dành ngôn từ hay nhất ca ngợi Hồ Chủ tịch, thì một bài báo xuyên suốt mục tiêu, nội dung thể hiện tâm huyết của một Chủ tịch nước tới từng lĩnh vực tưởng như đơn giản nhưng góp phần không nhỏ xây dựng nên thế hệ cán bộ cách mạng liệu có phải chỉ để nhằm “mục đích duy nhất nâng cao bản thân mình trong mắt nhân dân” .


Tư Mã Thiên: TMT đã đọc một số bài của Người buôn gió và thấy lối viết dí dỏm, phóng khoáng. Tuy nhiên, đó chỉ là lối viết phóng tác, nghĩ gì viết nấy; nếu để nghiên cứu thì trình độ của Người buôn gió chưa đủ. Nhiều nhà dân chủ muốn được nổi tiếng và như vậy thì mục tiêu của họ là Hồ Chí Minh, Tư Mã Thiên đã nhắc đến Đỗ Nam Hải, nay là Người Buôn gió Bùi Thanh Hiếu.

LâmTrực@
Vài điều xin thưa với ông Nguyễn Hưng Quốc.

Đọc bài của ông trên VOA với tựa "Nghĩ về các cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Việt Nam", tôi có mấy ý thế này:


Cái thứ tư tưởng xuyên suốt trong bài của ông là sự thù hằn dân tộc, với định kiến tiêu cực về chính quyền và dân tộc Việt. Tôi không biết vì sao ông cất lên tiếng nói đó, nhưng rõ ràng người đọc dễ dàng nhận thấy, ông đang chỉ trích dân tộc đã sinh ra ông đã cưu mang ông và cho ông một cái tên.


Người đọc cũng không khó để nhận ra thái độ cổ súy cho những hành vi bị coi là bất hợp pháp ở Việt Nam, đó là biểu tình mà không được phép của chính quyền. Tôi biết ông đang sống ở Mỹ, một quốc gia tiên tiến với hệ thống luật pháp tương đối hoàn chỉnh, và chính ngay ở Mỹ, ông muốn biểu tình thì phải xin phép chính quyền. Chỉ khi chính quyền cho phép thì ông mới được làm điều ông xin. Tự do, hay dân chủ đều phải trong khuôn khổ luật pháp của quốc gia mà ta đang sống. Cần nhắc thêm với ông rằng, cùng là biểu tình, với mục đích nội dung như nhau, nhưng tại Mỹ không phải lúc nào chính quyền cũng cho phép. Cho phép hay không phụ thuộc vào tình hình thực tiễn và bối cảnh chính trị lúc đó chứ không phụ thuộc vào những người muốn đi biểu tình. Xin hỏi ông, nếu chính quyền chưa cho phép biểu tình, mà ông vân đi, cứ đi biểu tình thì ở Mỹ người ta làm gì với ông? Tôi dám chắc là ông vào khám.


Tôi không hiểu sao ông lại hằn học với dân tộc Việt Nam đến thế, trong khi lẽ ra với tư cách là một con dân nước Việt ông cần có thái độ tích cực để xây dựng và bảo vệ đất nước? Sự hằn học trong ông vô tình hoặc hữu ý đánh mất lòng tự trọng cuối cùng của một người con nước Việt, đến mức không thể nhận ra đâu là hành vi vi phạm pháp luật đâu là hành vi được chính quyền cho phép.


Ông cũng không thể phân biệt được đâu là hành vi bảo vệ luật pháp, bảo vệ trật tự xã hội với một hành vi được coi là khủng bố. Ông nên nhớ, tại Mỹ nơi ông đang sống, ông chỉ cần không tuân thủ sự hướng dẫn của cảnh sát giao thông thôi, lập tức ông đã bị người ta rút súng, bắt nằm xuống đất và còng tay rồi Và nếu ông có ý đồ chống lại hoặc biểu hiện chống lại, ông sẽ bị cưỡng chế không thương tiếc, thậm chí bắn chết. Ở Việt Nam thì sao? trước hết ông được Cảnh sát tôn trọng khuyên nhủ, nhắc nhở, cảnh cáo..và nếu ông vẫn cố tình vi phạm, người ta mới bắt ông. Khi bắt, ông chống đối kiểu lưu manh thì đương nhiên người ta phải mạnh tay. Ông không nên cói đó là hành vi khủng bố, nếu ông kết luận là khủng bố, điều đó chỉ chứng tỏ rằng cái mác Tiến sĩ của ông đang có vấn đề hoặc hiện giờ năng lực hành vi của ông cần đến sự can thiệp của y học.


Một điểm nữa mà người đọc lấy làm lạ là vì sao cả một bài viết, ông chỉ trích chính quyền đàn áp mà không thể viện dẫn ra được một dẫn chứng có sức thuyết phục? Ông nói "Nhiều người bị công an đến vây chặt đến độ không thể rời khỏi nhà được" nhưng ông không thể chứng minh. Vậy năng lực khoa học của ông để đâu? hay ông cũng như 144 vị trí thức bắc chõ nghe hơi?


Ông nói cuộc tuần hành vừa qua ở Việt Nam là một cuộc biểu tình và thành công ở việc "người ta đã cất lên được tiếng nói của mình và tiếng nói ấy đã có âm vang, được tường thuật rộng rãi trên những cơ quan truyền thông nổi tiếng và có ảnh hưởng khắp thế giới: Dân chúng Việt Nam, bất chấp những sự đe doạ của chính chính quyền nước họ, đã không chịu khuất phục trước những hành động gây hấn và xâm chiếm ngang ngược của Trung Quốc". Tôi không thể đồng ý với ông về nhận định này.


Thưa ông Hưng, ông đang ngộ nhận đấy, không phải là khi có biểu tình, người dân mới cất lên được tiếng nói của mình như ông nghĩ đâu. Ở Việt Nam, chúng tôi hoàn toàn có thể nói lên thái độ của mình với Trung Quốc xâm lược. Nhưng nói như thế nào, nói bằng cách nào đi chăng nữa cũng phải mang tính xây dựng, và thể hiện nó trong khuôn khổ luật pháp.Những tiếng nói lạc lõng, đi ngược lại lợi ích dân tộc đều bị pháp luật nghiêm cấm và điều này diễn ra không chỉ ở Việt Nam. Mặt khác, ông cho rằng, chính quyền đe dọa người dân nhưng không chỉ ra được những dẫn chứng cụ thể nào. Nhận định này hoàn toàn trái ngược với những sự thật đang diễn ra trên đất nước Việt Nam, và nó chỉ thể hiện thái độ hằn học đến bệnh hoạn của ông đối với dân tộc.


Vẫn thái độ đó, ông rằng chính quyền "khiếp nhược trước Trung Quốc" và đó là "tiêu chí phân biệt người dân với chính quyền", xin hỏi ông căn cứ vào đâu để đưa ra nhận định này? Chống ngoại xâm là nghĩa vụ Nhà nước và của mọi công dân Việt Nam. Nhà nước Việt Nam có đường lối chống ngoại xâm của mình, có sự chuận bị cho những tình huống xấu nhất mà không cần đến những người ông dạy bảo. Ông không có tư cách để dạy bảo vì ông đã phản bội lại lợi ích của dân tộc, ông đã chọn con đường rời bỏ quê hương đất nước trong lúc khó khăn để tìm đến miếng cơm manh áo nơi xứ người thay vì có trách nhiệm xây dựng đất nước, thì dứt khoát không có tư cách đó. Ông cũng nên nhớ rằng, ở thời điểm này biểu tình không phải là con đường tối ưu cho việc chống Trung Quốc xâm lược mà trái lại nó đang làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo vệ đất nước thông qua kênh ngoại giao. Tất nhiên, tôi không phủ nhận vai trò của biểu tình, nhưng thử hỏi rằng, biểu tình như đám phá rối kia vừa tiến hành đã mang lại gì lợi thế cho bảo vệ đất nước? hay chỉ mang lại những bất ổn về an ninh trật tự?

Chúng tôi, những người dân Việt, thừa hiểu mục đích của mấy cuộc tuần hành mà các ông gọi là biểu tình ấy. Nó không chỉ nhằm vào Trung quốc như một số kẻ nhẹ dạ cả tin đâu, mà thực chất là nhằm vào chính quyền, nhằm vào nhà nước với mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ nhà nước này. Mục đích này của những kẻ bán nước như ông sẽ thất bại vì bản chất các ông không có thực lực, các ông chỉ là những kẻ theo đóm ăn tàn, bợ đỡ ngoại bang mà thôi.

Từ ngày ông trốn chạy, chối bỏ khỏi đất nước đến nay, hình ảnh Việt Nam đã khác. Chính ông và các những người một thời lầm lỡ khi quay về đã phải thốt lên ngạc nhiên vì những gì đang diễn ra ở Việt Nam. Đó là sự thay đổi tích cực trên mọi phương diện, đặc biệt là đời sống của người dân ngày càng được nâng cao. Lẽ dĩ nhiên, tôi không phủ nhận rằng, bên cạnh những tiến bộ đó, cũng như mọi chính quyền nào đó ở trên trái đất này, chúng tôi còn nhiều thiếu xót cần khắc phục. Nhưng sự thật tiến bộ ở Việt Nam là không thể phủ nhận và nó được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Ngay cả Mỹ, một quốc gia hùng mạnh đã có thời đối đầu với Việt Nam nay cũng đã là bạn, tất nhiên ông không là gì để có thể đại diện cho tư tưởng của Mỹ để đánh giá Việt Nam.

Mỗi dân tộc đều có niềm tự hào riêng của mình về những người con ưu tú của họ, nước Mỹ tự hào vì có Washinhton hay B. Obama và Việt Nam, người Việt Nam tự hào có Hồ Chí Minh. Ông có thể không tự hào về điều đó, nhưng bất chấp điều đó, Hồ Chí Minh vẫn mãi là niềm tự hào của dân tộc và ông cũng nên nhớ rằng Hồ Chí Minh đã được cộng đồng quốc tế nhìn nhận và vinh danh là danh nhân văn hóa thế giới. Chống lại điều đó, ông đang tự đánh mất chút nhân cách cuối cùng của con người.

Điều nhỏ nhoi thôi, tôi muốn nói với ông rằng, trấn áp tội phạm là công việc phải làm mang tính khiên cưỡng của bất kể nhà nước nào. Kẻ nào vi phạm pháp luật, kẻ đó sẽ bị chính pháp luật trừng trị. Cuộc tuần hành vừa qua với cách hành xử của chính quyền đã cho thấy sự tôn trọng của nhà nước đối với người dân thông qua việc thượng tôn luật pháp và rất dễ để người ta nhận thấy tính nhân văn trong các hành động của nhân viên công quyền. Tất nhiên, người dân chúng tôi không thể tin vào mấy bài vu khống bịa đặt  vô căn cứ của các ông trên vài tờ lá cải được.

Những kẻ như ông cùng đám dân chủ giả hiệu thực chất chỉ là những kẻ vĩ cuồng đáng thương bởi sự ngộ nhận kệch cỡm. Tôi dám chắc, ở con người ông không có lấy một chút nào gọi là yêu nước, với ông yêu nước là một khái niệm xã xỉ, thay vào đó là sự hận thù vô luân. Vì thế, ông không có tư cách để xét xử ai cả, càng không có tư cách để bình phẩm về lòng yêu nước của người Việt.

Cuối cùng, một kẻ phản bội dân tộc như ông không có tư cách để còn là người Việt Nam.

Để giúp bạn đọc hiểu thêm về Nguyễn Hưng Quốc, xin mời tham khảo bài viết của một người Việt ở Hải Ngoại, được đăng trên Tinparis.net.

Người viết bài này không có bình luận gì thêm.

 NGUYỄN HƯNG QUỐC LÀ AI?.




- LÊ THÀNH TÂM.  -

Nguyễn Hưng Quốc, tên một người, được 1 số diễn đàn, báo giấy, báo điện lấy một số bài đãng, thường là nói về vãn học. Nguyễn Hưng Quốc thường được đài phát thanh SBS ở Úc  Châu ca tụng, phỏng vấn, coi là nhà phê bình vãn học kiệt xuất, tài nãng phi thường, đỉnh cao trí tuệ vãn học, tinh hoa hải ngoại. Cái tên Nguyễn Hưng Quốc xuất hiện rất nhiều lần thời Ngọc Hân còn làm việc và ngày nay, người đưa tên tuổi, công trình nghiên cứu vãn học hiếm quí trong các lần phỏng vấn lúc nhà phê bình vãn học, tức là giáo sư Nguyễn Hưng Quốc. Nổi bật là sau khi bị CSVN trục xuất lúc mới đặt chân đến phi trường Việt Nam trong chuyến về bình thường, có dẫn theo một số sinh viên ngoại quốc, về Việt Nam du khảo, mục đích là học tiếng Việt. Nguyễn Hưng Quốc bỗng trở thành người hùng, nhân vật đấu tranh, đối tượng" trục xuất" của chế độ cộng sản, được Phượng Hoàng phỏng vấn vài lần trong tinh thần con cá sống vì nước. Thành tích bị cộng sản trục xuất nầy đã đưa tên tuổi Nguyễn Hưng Quốc như là nhân vật thời danh trong hàng ngũ những người chống cộng. Thế nên, tên tuổi Nguyễn Hưng Quốc được nhiều người biết đến qua thành tích bị đảng cộng sản trục xuất, ngoài danh hiệu là nhà phê bình vãn học, nên được một số cơ quan truyền thông Việt ngữ tại  Hoa Kỳ, Úc…ca tụng. Gần đây, Nguyễn Hưng Quốc có bài viết khuyến cáo mọi người đừng dùng từ ngữ cộng sản, đọc qua thấy có lý, nhưng chúng tôi xin mạn phép được đưa ra những gì mà chúng tôi biết được con người của nhà phê bình vãn học, giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, trong tinh thần: biết người biết ta và nhất là thời kỳ vàng thau lẫn lộn, cần phải sáng suốt qua các nguồn thông tin, hoạt động chính trị, sinh hoạt hội đoàn…ở nước ngoài, xuất hiện khá nhiều các tổ chức chống cộng giả, còi mồi như băng đảng Việt Tân, chính phủ Nguyễn Hữu Chánh, Ðào Minh Quân…nên cần phải dè dặt để không tin lầm, là đề cao cảnh giác, cần thiết vào thời kỳ địch-ta lẫn lộn, chánh-tà nhập chung.

Theo quyển  sách tựa đề: Ba Mươi Nam Vãn Học Nghệ Thuật của Người Việt ở Úc, phát hành nãm 2005, của tác giả Ngô Lâm, có phần tiểu sử Nguyễn Hưng Quốc, trang 146 ghi như sau: Nguyễn Hưng Quốc, tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn, sinh ngày 29 tháng 10 nãm 1957 tại Quảng Nam, tốt nghiệp Vãn khoa trường Ðại học sư phạm tại Việt Nam và tiến sĩ vãn học tại Úc.." trong phần tiểu sử cho biết là giáo sư Nguyễn Hưng Quốc vượt biển tìm tự do, đến Nam Dương nãm 1985 và định cư ở Pháp, nơi nầy công tác với tờ Quê Mẹ do Võ Vãn Ái chủ trương.

Theo tiểu sử, Nguyễn Hưng Quốc sinh nãm 1957, tức là lúc 18 tuổi, miền nam lọt vào tay cộng sản, thời mà những người phục vụ trong quân đội, công chức miền nam bị trù dập, gia đình rất khó khãn, con cái bị tống ra khỏi học đường, nhất là các trường đại học, bị đưa đi làm công cụ ở chiến trường Campuchea, hay đưa đi thanh niên xung xong. Chính sách học tài thi lý lịch được áp dụng triệt để vào những nãm đầu tiên…thế nên Nguyễn Hưng Quốc được học đại học sư phạm, được chế độ cộng sản cho giới thầy cọ giáo là" kỷ sư tâm hồn", nên từ đó, theo kinh nghiệm, trường hợp Nguyễn Hưng Quốc, có thể nằm trong gia đình cách mạng hay vô tích sự miền nam?.

Ðến trại tỵ nạn, nếu Nguyễn Hưng Quốc có chứng minh là tỵ nạn chính trị, thì các nước như Hoa Kỳ, Úc, Canada…nhận, nhưng đi Pháp có hai trường hợp: có thân nhân bảo lãnh, hay là không có diện gì, cuối cùng Pháp nhận?. Sang Pháp, Nguyễn Hưng Quốc cộng tác với tờ Quê Mẹ của Võ Vãn Ái, người nhiều mặt, từng cùng với thiền sư Thích Nhất Hạnh trong phong trào phản chiến, đâm sau lưng chính thể miền nam trước 1975 và sau nãm 1975 lại phục tùng dưới trướng của một số sư Ấn Quang, do huề thượng Thích Quảng Ðộ, Huyền Quang. Khối Ấn Quang là nơi xuất phát hầu hết những pháp nạn, nghiệp báo quốc nạn, do tu sĩ làm lợi cho cộng sản từ trước 1975 đến nay, không thể tin vào bất cứ sư ni Ấn Quang nào từ trong và ngoài nước, là  cảnh giác, ngừa bệnh hơn trị bệnh.

Ðầu nãm 1991, Nguyễn Hưng Quốc di dân sang Úc, không rõ là di dân theo diện bảo lãnh gia đình, hôn phối?. Ðược ghi trong sách của Ngô Lâm là dạy môn vãn hóa, chiến tranh VN tại đại học RMT…không thấy Nguyễn Hưng Quốc nói về bằng cấp mà hầu hết các đại học đòi hỏi là tiến sĩ, thế nên không biết rõ về nguồn gốc vãn bằng. Tuy nhiên, Nguyễn Hưng Quốc được cho là Nhà Phê Bình Vãn Học, có tác phẩm rất lập dị:" Vâng Vâng và Vâng Vâng".  Tuổi đời, Nguyễn Hưng Quốc không phải là già, hay là những người làm vãn học, vãn hóa trước nãm 1975, thế mà lại được cho là nhà phê bình vãn học, ngồi chung chiếc chiếu phê bình cãn học như Võ Phiến, Thụy Khuê…cái danh hiệu phê bình vãn học rất là mơ hồ, mang đầy tính tự phong, vấn đề tác phẩm, người phê bình thường am tường và có hiểu biết, nhưng danh hiệu phê bình vãn học ở con người Nguyễn Hưng Quốc, cần phải đặt lại: lấy tư cách gì để phê bình vãn học, trong khi đương sự không có những tác phẩm nào nổi bật, ngoại trừ cuốn: vâng vâng và vâng vâng…?.Dạy học với các ngành chuyên môn ở hải ngoại là điều làm vẻ vang dân Việt, nhưng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, không phải là xuất sắc, cũng có thể là Nguyễn Hưng Quốc không có bằng tiến sĩ, bon che dạy tiếng Việt trong đại học?.

Hình ảnh Nguyễn Hưng Quốc xuất hiện tại trung tâm Thúy Nga, nơi qui tụ vãn công, thành phần đáng ngờ trong sinh hoạt vãn nghệ, từng giới thiệu người hùng" không hải chiến" trận Hoàng Sa là phó đề đốc Hồ Vãn Kỳ Thoại với tác phẩm Can Trường Trong Chiến Bại…Nguyễn Hưng Quốc với mái tóc bạc, khiến nhiều người lầm tưởng là người lớn tuổi, thuộc thế hệ trước, nhưng nhìn lại lý lịch, sinh nãm 1957, lại tốt nghiệp đại học sư phạm sau nãm 1975.

Thành tích nổi bật trong vãn học là Nguyễn Hưng Quốc cho là: thơ con cóc hay nhất trong các loại thơ…nói như thế thì thơ Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trải, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương,  Nguyễn Du, Huyện Thanh Quan…đều không bằng thơ con cóc. Ðây là lối mạt sát rất có" vãn học" của một người tốt nghiệp đại học sư phạm tại VN sau 1975, với cái nhìn" phi vãn học" mà lại khoát chiếc áo" nhà phê bình vãn học". Lối suy tư chủ quan, tự cao tự đại, hay là có chủ đích của cái gọi là Nhà Phê Bình Vãn Học Nguyễn Hưng Quốc lại được những kẻ đồng tình như Nguyễn Mộng Giác ( từng về VN xin in sách), Võ Phiến ( nhóm vãn học, họp tại Hoa Kỳ cùng với Nguyễn Hưng Quốc..) đài phát than SBS Úc Châu và vài cơ quan truyền thông khác ca tụng. Trên đài SBS, Phượng Hoàng thường dành những cuộc phỏng vấn với nhà phê bình vãn học Nguyễn Hưng Quốc, với lời lẽ rất là hống hách, xem mọi người không ra gì, là lối mà những kẻ" thùng rỗng kêu to" khoát lát, lại được nhân viên đài phát thanh do chính phủ Úc tài trợ dùng để đánh bóng cá nhân, tức là Phượng Hoàng biết dùng tiền đóng thuế của dân Úc, trong đó có người Việt Nam để biến thành đài phát thanh riêng của nhóm người làm trong đài, phục vụ bè phái, người Việt ở Úc cần phải lên tiếng, ít nhất cũng là thỉnh nguyện thư, gởi lên quốc hội, bộ thông tin, để duyệt xét lại việc làm của 1 nhóm người dùng phương tiện truyền thông chính phủ để phục vụ cá nhân như Nguyễn Hưng Quốc.

Theo lời phát biểu của giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, người cùng Hoàng Ngọc Tuấn, lập ra trang mạng Tiền Vệ, cũng là giao lưu vãn hóa từ trong nước, như Ðàn Chim Việt. Trang mạng Tiền Vệ đãng vãn thơ của hai phía và theo Nguyễn Hưng Quốc, rất là hống hách cho là: có những người nổi tiếng, nhưng gởi bài không đãng, có những người vô danh tiểu tốt lại đãng…đây cũng là cách bày tỏ lối vãn học: thơ con cóc hay nhất trong các loại thơ. Trên đài phát thanh SBS, Nguyễn Hưng Quốc nói rõ là từng về Việt Nam, tiếp xúc với những đối tác vãn hóa trong nước ( những người làm vãn hóa nầy là ai, không cần phải giải thích thêm).

Nổi bật nhất là vụ giáo sư Nguyễn Hưng Quốc về Việt Nam và bị trục xuất tại phi trường. Ðây là chuyện được đài phát thanh SBS, các cơ quan truyền thông Việt Tân ca tụng, phỏng vấn, thế nên Nguyễn Hưng Quốc trở thành người đối kháng, chống cộng…thế nên tại Hoa Kỳ, Úc…có một số người rất là bái phục, thậm chí có vài diễn đàn cũng chưa nắm vững vấn đề, nên đãng những bài viết của Nguyễn Hưng Quốc, bằng chứng là bài viết mới đây của Nguyễn Hưng Quốc, khuyến cáo đừng dùng từ Việt Cộng…

Nguyễn Hưng Quốc về VN nhiều lần, không có vấn đề gì, nhất là dẫn dắt sinh viên Úc ( thường là nước ngoài) về VN để" du khảo", tức là học vãn hóa từ bộ giáo dục đảng, đương nhiên là sinh viên du khảo học luôn những từ ngữ Việt Cộng. Sự khuyến cáo của Nguyễn Hưng Quốc về việc dùng từ Việt Cộng chỉ là lớp sơn che đậy những lòn lách mà Nguyễn Hưng Quốc từng thực hiện, đầu độc người ngoại quốc học tiếng Việt tại đại học RMT ở Melbourne, đừng tin những gì Nguyễn Hưng Quốc nói, hảy nhìn kỷ những gì Nguyễn Hưng Quốc làm.

Lý do mà Nguyễn Hưng Quốc bị trục xuất tại phi trường VN chỉ là khổ nhục kế, lúc ấy ở Úc Châu ầm lên phản đối có 1 số thầy cô dạy tiếng Việt, dùng học bổng của chính phủ Úc để về Việt Nam tu nghiệp. Thế nên nhà phê binh vãn học tự phong Nguyễn Hưng Quốc tung hỏa mù là bị trục xuất tại phi trường  khi hướng dẫn một số sinh viên ngoại quốc học tiếng Việt, về Việt Nam du khảo, học hỏi vãn hóa cộng sản. Nhưng Nguyễn Hưng Quốc khôn nhưng không ngoan, cho biết là bị trục xuất và sinh viên được bàn giao cho giới chức vãn hóa Việt Nam để tiếp tục du khảo.

Chúng tôi cảnh báo những cơ quan truyền thông về các bài viết vãn học, vãn hóa của Nguyễn Hưng Quốc, để không bị đánh lừa, nhất là cái vỏ bọc" nhà phê bình vãn học" là học vị tự phong, thực tài chưa thể chứng minh, nhất là lập trường./.
LÊ THÀNH TÂM
21.09.2012


Tổng số lượt xem trang

Tìm kiếm Blog này

Nổi bật trong tuần

Bài đăng nổi bật

Đọc thêm